• Thứ tư, 25/05/2022 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 2969 Lượt xem

Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện

Các giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người có giao dịch được thực hiện, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.

Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện là gì?

Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện là giao dịch dân sự không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp (1) Người được đại diện đã công nhận giao dịch, (2) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý, (3) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện (khoản 1 Điều 142 Bộ luật dân sự 2015). 

Ngoài ra, Điều 142 Bộ luật dân sự 2015 cũng có thêm một số quy định về Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện:

“ 2. Trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện thì người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch. 

3. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

4. Trường hợp người không có quyền đại diện và người đã giao dịch cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.”

Tư vấn Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện

Trước hết, cần nói rằng điều luật dùng thuật ngữ “người được đại diện” là không chính xác bởi không có quan hệ đại diện trong các trường hợp này nên không thể có người được đại diện. Vì thế, thuật ngữ trên được hiểu là: Người có giao dịch được người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện. Ví dụ: A đem tài sản của B cho C thuê trong khi A không có quyền đại diện cho B thì B được gọi là người có giao dịch được người người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện.

Các giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người có giao dịch được thực hiện (là B trong ví dụ nêu trên) trừ khi người này chấp nhận giao dịch đó hoặc không phản đối khi đã biết hay có lỗi làm cho người đã chấp nhận xác lập, thực hiện giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện.

Ví dụ: A đem tài sản của B cho C thuê (B chưa thành niên) nhưng do lỗi của B nên C hiểu nhầm A là cha của B nên có quyền đại diện B để xác lập, thực hiện giao dịch này.

Nếu giao dịch không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người có giao dịch được xác lập thì người đã xác lập giao dịch phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, đồng thời người đã giao dịch có quyền đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ giao dịch đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ khi người này đã biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch.

Nếu giao dịch không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người có giao dịch được xác lập mà gây thiệt hại cho người này thì người xác lập giao dịch và người đã giao dịch phải liên đới bồi thường cho người có giao dịch được xác lập nếu họ đều cố ý xác lập, thực hiện giao dịch đó.

Nghiên cứu quy định này có thể nhận thấy đây giống như trường hợp một người thực hiện công việc cho người khác mà không có sự ủy quyền và cũng không có bất cứ một căn cứ pháp lý nào cho việc thực hiện công việc đó. Do đó, theo quan điểm của chúng tôi, nếu việc xác lập giao dịch đó thực sự là cần thiết đối với người có công việc (nó tránh cho người có công việc một thiệt hại. Ví dụ, A bán hộ B một lô hàng có nguy cơ hư hỏng khi B đang đi du lịch mặc dù B không ủy quyền cho A), thì nên quy định theo hướng giao dịch đó vẫn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người có công việc với người thứ ba.

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Xe ủy quyền có bị phạt không?

Giấy ủy quyền là một văn bản pháp lý trong đó ghi nhận việc người ủy quyền chỉ định người được ủy quyền đại diện mình thực hiện một hoặc nhiều công việc trong phạm vi quy định tại giấy ủy...

Tặng cho đất bằng giấy viết tay có hợp pháp không?

Ông tôi cho bố tôi một mảnh đất 587 mét vuông nhưng giấy tờ viết tay không có xác nhận của cơ quan nhà nước. Sau hai năm ông tôi không cho bố tôi nữa mà muốn cho tôi có được...

Đóng bảo hiểm trên 20 năm có được hưởng bảo hiểm một lần không?

Tôi hiện đang làm công nhân theo một hợp đồng không xác định thời hạn. Đến tháng 9 năm 2016 thì tôi chấm dứt hợp đồng với công ty và cũng vừa tròn 23 năm đóng bảo hiểm xã hội. Đến lúc đó tôi không tham gia bảo hiểm xã hội nữa thì có được hưởng bảo hiểm một lần thay vì hàng tháng...

Đăng ký khai sinh cho con ở đâu?

Tôi và vợ kết hôn đầu năm 2015. Và ngày mùng 10/8/2016 vừa qua chúng tôi mới sinh con đầu lòng. Chúng tôi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 8 phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tôi chưa biết thủ tục đăng ký khai sinh cho con như thế nào và đi đăng ký ở đâu. Mong luật sư giải đáp giúp...

Nghỉ việc không báo trước bị phạt như thế nào?

Từ năm 2021 trở đi, khi bộ luật lao động 2019 có hiệu lực thi hành, người lao động không căn cứ vào các trường hợp cụ thể mà căn cứ vào loại hợp đồng lao động đã ký kết với người sử dụng lao động để xác định thời hạn thông báo trước khi nghỉ...

Xem thêm

0981.378.999
Online