Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Tư vấn Luật Dân sự Từ chối nhận di sản trong trường hợp nào?
  • Thứ tư, 25/05/2022 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 874 Lượt xem

Từ chối nhận di sản trong trường hợp nào?

Việc từ chối nhận di sản liên quan trực tiếp đến quyền lợi của những người thừa kế khác. Vì vậy, ý chí về việc từ chối nhận di sản của một người thừa kế nào đó cần phải được thể hiện một cách minh bạch bằng một hình thức nhất định.

Cá nhân có quyền để lại tài sản của mình cho người khác cũng có quyền được hưởng di sản. Vậy cá nhân có quyền từ chối nhận thừa kế không?Khách hàng quan tâm đến nội dung trên vui lòng theo dõi nội dung bài viết với tiêu đề Từ chối nhận di sản thừa kế theo quy định pháp luật.

Pháp luật quy định như thế nào về từ chối nhận di sản

Điều 642 BLDS 2005 đã quy định: 

1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản, người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.

3. Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế. 

Quy định trên cho thấy, pháp luật hiện hành về thừa kế của | nước ta luôn luôn tôn trọng ý chí tự do của cá nhân trong việc nhận thừa kế. Việc nhận di sản được pháp luật xác định là một quyền, không ai có thể bị buộc phải nhận di sản, nếu không muốn.

Vì thế, từ chối nhận di sản cũng được coi là quyền tự do ý chí của người thừa kế. Tuy nhiên, để giảm thiểu sự phức tạp trong thực tế cũng như để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người khác, tự do ý chí này sẽ bị pháp luật hạn chế một số điểm và phải tuân thủ theo một hình thức, thủ tục nhất định sau đây: 

– Không được từ chối nhận di sản để trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. | Hạn chế này nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp cho người có quyền mà người từ chối nhận di sản đang có nghĩa vụ phải thực hiện cho họ các khoản nợ như: món nợ đã vay, khoản tiền phải bồi thường thiệt hại, tiền công lao động… Vì vậy, nếu người thừa kế không thực hiện các khoản nợ khi đã đến hạn vì không còn khả năng tài sản để thanh toán, đồng thời lại từ chối quyền hưởng di sản thì được phép suy đoán việc từ chối đó là nhằm trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ nói trên. Trong trường hợp này, người thừa kế đó buộc phải nhận di sản và phần di sản đó được dùng để thanh toán các khoản nợ mà người đó phải thực hiện đối với người khác. 

Trong những trường hợp vì một lý do nào đó mà việc từ chối nhận di sản đã được hoàn tất thủ tục nhưng về sau lại có đủ căn cứ để xác định rằng, tại thời điểm từ chối nhận di sản, người thừa kế đó không còn khả năng tài sản để thực hiện các nghĩa vụ đã đến hạn đối với người khác thì việc từ chối nhận di sản coi như không có hiệu lực. Theo đó, mặc nhiên coi phần di sản mà người thừa kế đã từ chối vẫn là của họ và sẽ được dùng để thanh toán các khoản nợ mà họ phải thực hiện đối với người khác 

– Người thừa kế chỉ có quyền từ chối nhận di sản trong một thời hạn nhất định. 

Việc từ chối nhận di sản có cần công chứng hay chứng thực hay không?

Việc từ chối nhận di sản liên quan trực tiếp đến quyền lợi của những người thừa kế khác. Vì vậy, ý chí về việc từ chối nhận di sản của một người thừa kế nào đó cần phải được thể hiện một cách minh bạch bằng một hình thức nhất định.

Giả sử rằng, nếu pháp luật thừa nhận việc từ chối nhận di sản được thực hiện bằng hình thức miệng thì vấn đề sẽ trở nên vô cùng phức tạp, nếu chính người đã từ chối nhận di sản lại đòi hưởng di sản. Pháp luật dân sự quy định việc từ chối bắt buộc phải được thiết lập bằng hình thức viết. Đó là điều kiện để việc từ chối có giá trị, đồng thời nhằm nâng cao tính xác thực về mặt chứng cứ của việc từ chối. 

Văn bản từ chối nhận di sản có thể được cơ quan công chứng chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân cấp cơ sở chứng thực nếu có yêu cầu của người từ chối nhận di sản nhưng không phải là trình tự bắt buộc. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, pháp luật cần quy định cụ thể về việc từ chối nhận di sản phải thực hiện thủ tục tại Ủy ban nhân dân cơ sở hoặc tại cơ quan công chứng. 

Việc từ chối nhận di sản phải được thông báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế. Trong BLDS 2005 cũng như các văn bản pháp luật khác không quy định việc thông báo này phải tuân theo một hình thức nào nên dù việc thông báo là bắt buộc nhưng người từ chối nhận di sản có thể thông báo bằng văn bản, cũng có thể thông báo bằng miệng. 

Bình luận về quyền từ chối nhận di sản

Pháp luật không quy định người đã từ chối nhận di sản có quyền hủy bỏ việc từ chối đó hay không. Tuy nhiên, phải hiểu rằng, một khi việc từ chối đã có hiệu lực thì di sản thừa kế sẽ được chia cho những người thừa kế khác, nên người đã từ chối không được hủy bỏ việc từ chối đó nữa.

Chúng tôi thấy rằng, nếu người từ chối chỉ thông báo việc từ chối bằng miệng thì sau đó, nếu họ muốn, họ vẫn có thể hủy bỏ văn bản từ chối nhận di sản và nói rằng họ chưa bao giờ từ chối nhận di sản. Khi đó, tranh chấp sẽ xảy ra và những người thừa kế khác sẽ không có chứng cứ để chúng minh cho quyền được hưởng phần di sản đó.

Vì vậy, chúng tôi cho rằng, pháp luật cần phải quy định: Văn bản từ chối nhận di sản phải được lập thành nhiều bản có giá trị như nhau và người đã từ chối nhận di sản phải gửi văn bản đó cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản và một trong những cơ quan nhà nước nói trên. 

Pháp luật về thừa kế trước đây của nhà nước ta ghi nhận người thừa kế có thể nhường quyền hưởng di sản với thời hạn không hạn chế. Kể từ khi BLDS được ban hành, việc nhượng quyền hưởng di sản không được ghi nhận mà thay vào đó, BLDS quy định về quyền từ chối nhận di sản với điều kiện, hình thức và thủ tục như đã nói trên. 

Thực tế vẫn xảy ra trường hợp người thừa kế nhượng quyền hưởng di sản cho người khác và vẫn được cơ quan có thẩm quyền thừa nhận bởi đó là quyền tự do ý chí và không trái pháp luật. Tuy nhiên, việc nhượng quyền hưởng di sản có bị hạn chế về mặt thời gian không, cần tuân theo thủ tục, hình thức nào vẫn đang là sự bỏ ngỏ của pháp luật. 

Chúng tôi cho rằng, ngoài quyền từ chối nhận di sản, pháp luật về thừa kế của nước ta cần ghi nhận về việc nhượng quyền hưởng di sản và theo đó quy định cụ thể về những hạn chế cũng như thủ tục, trình tự và hình thức của việc nhượng quyền hưởng di sản này. 

Trên đây là một số chia sẻ của chúng tôi xoay quanh vấn đề từ chối nhận di sản thừa kế. Khách hàng theo dõi nội dung bài viết, có vướng mắc vui lòng phản hồi trực tiếp để chúng tôi hỗ trợ nhanh chóng.

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Mua nhà vi bằng có làm sổ hồng được không?

Vi bằng không có giá trị thay thế cho hợp đồng được...

Vi bằng nhà đất có giá trị bao lâu?

Hiện nay, pháp luật không có quy định về thời hạn giá...

Mua xe trả góp có cần bằng lái không?

Với hình thức mua xe trả góp, người mua có thể dễ dàng...

Không có giấy phép lái xe có đăng ký xe được không?

Theo quy định pháp luật hiện hành, người mua xe hoàn toàn...

Phí công chứng hợp đồng thuê nhà hết bao nhiêu tiền?

Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì việc thuê nhà...

Thanh lý hợp đồng thuê nhà có phải công chứng?

Khi thực hiện thanh lý hợp đồng khi thuê nhà, bên muốn...

Cho thuê nhà không có hợp đồng có bị phạt không?

Khi xảy ra tranh chấp về việc thuê nhà, để có căn cứ...

Hợp đồng thuê nhà không công chứng có giá trị không?

Pháp luật hiện nay quy định, hợp đồng thuê nhà không bắt...

Thỏa thuận ngõ đi chung có nên lập vi bằng không?

Theo văn bản pháp luật thì Vi bằng là văn bản ghi nhận sự...

Người được ủy quyền có được phép ủy quyền cho người...

Người được ủy quyền có được phép ủy quyền cho...