• Thứ ba, 14/05/2024 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 520 Lượt xem

Thương lượng tập thể không thành

Điều 71 về thương lượng tập thể không thành bao gồm hai nội dung chính: (i) Quy định về những trường hợp cụ thể được xác định là thương lượng tập thể không thành; và (ii) Quyền, nghĩa vụ của các bên trong trường hợp thương lượng tập thể không thành.

Các trường hợp thương lượng tập thể không thành 

Điều 71 Bộ luật lao động quy định về Thương lượng tập thể không thành như sau:

1. Thương lượng tập thể không thành thuộc một trong các trường hợp sau đây

a) Một bến từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 70 của Bộ luật này

b) Đã hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này mà các bên không đạt được thỏa thuận; 

c) Chưa hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này nhưng các bên cùng xác định và tuyên bố về việc thương lượng tập thể không đạt được thỏa thuận.

2. Khi thương lượng không thành, các bên thương lượng tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật này. Trong khi đang giải quyết tranh chấp lao động, tổ chức đại diện người lao động không được tổ chức đình công. 

Bình luận về thương lượng tập thể không thành

Điều 71 về thương lượng tập thể không thành bao gồm hai nội dung chính: (i) Quy định về những trường hợp cụ thể được xác định là thương lượng tập thể không thành; và (ii) Quyền, nghĩa vụ của các bên trong trường hợp thương lượng tập thể không thành. 

Trường hợp đầu tiên được quy định là thương lượng tập thể không thành là trường hợp một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn theo quy định của pháp luật là 30 ngày kể từ ngày có yêu cầu thương lượng tập thể. Đây thực chất là trường hợp bên từ chối thương lượng đã vi phạm pháp luật do việc phải tiến hành thương lượng trong thời hạn luật định là nghĩa vụ pháp lý của bên nhận được yêu cầu thương lượng.

Hành vi vi phạm pháp luật này có thể bị xử lý và áp dụng chế tài theo quy định của pháp luật, tuy nhiên, về phương diện quan hệ lao động, nó được xác định là một trường hợp thương lượng tập thể không thành và thủ tục giải quyết tranh chấp lao động có thể được kích hoạt, bao gồm quá trình hòa giải, trọng tài và cả việc bên người lao động là bên bị vi phạm thì họ vẫn có thể thực hiện quyền đình công theo quy định của pháp luật. 

Các trường hợp khác được xác định là thương lượng tập thể không thành là những trường hợp đã hết tổng thời gian 90 ngày theo quy định tại khoản 2 Điều 70 của BLLĐ mà các bên không đạt được thỏa thuận; hoặc trường hợp chưa hết thời hạn 90 ngày nêu trên, song các bên thương lượng không thấy có cơ hội đạt được thỏa thuận thông qua thương lượng nên cùng xác định và tuyên bố về việc thương lượng tập thể không đạt được thỏa thuận. 

Khoản 2 Điều 71 quy định khi thương lượng không thành, các bên thương lượng tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của BLLĐ. Trong khi đang giải quyết tranh chấp lao động, tổ chức đại diện người lao động không được tổ chức đình công.

Bản chất của quy định này là xác định trong trường hợp thương lượng tập thể không thành thì có nghĩa là một tranh chấp về lợi ích đã xuất hiện. Và do đó, toàn bộ trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động về lợi ích có thể được các bên sử dụng để thúc đẩy cho việc đạt được thỏa thuận trong thương lượng tập thể. 

Đây là điểm rất đặc thù của tranh chấp lao động so với các tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại thông thường. Trong dân sự, kinh doanh, thương mại, việc các bên không đạt được thỏa thuận trong quá trình đàm phán hợp đồng không trở thành những tranh chấp dân sự hay kinh doanh, thương mại. Nếu đàm phán thành thì có hợp đồng, nếu không thành thì không có hợp đồng, mà không phát sinh tranh chấp liên quan.

Tuy nhiên, trong quan hệ lao động, nếu các bên thương lượng tập thể để tiến tới ký thỏa ước lao động tập thể (bản chất là hợp đồng tập thể) mà không thành thì pháp luật lại xem đây là một tranh chấp lao động và được định nghĩa là tranh chấp lao động tập thể về lợi ích’ và các quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp như hòa giải, trọng tài có thể được áp dụng để giải quyết.

Và như vậy, bản chất của việc giải quyết tranh chấp trong trường hợp này là quá trình hỗ trợ, thúc đẩy cho các bên đạt được thỏa thuận trong thương lượng tập thể, khác với việc giải quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, bản chất của việc giải quyết tranh chấp là khôi phục lại những quyền lợi hợp pháp đã bị xâm hại do hành vi vi phạm hoặc không thực hiện hợp đồng gây ra. 

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn được hiểu như thế nào?

Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn được hiểu như thế nào? Cùng chúng tôi tìm hiểu để có thêm thông tin giải đáp qua bài viết này...

Thời gian thử việc đối với trình độ đại học là bao lâu?

Thời gian thử việc đối với trình độ đại học là bao lâu? là thắc mắc được chúng tôi chia sẻ, làm rõ trong bài viết này. Mời Quý vị theo dõi, tham...

Hành vi nào được xem là tiết lộ bí mật kinh doanh?

Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh...

Ai có thẩm quyền ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động?

Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động là văn bản do người sử dụng lao động ban hành nhằm thông báo việc chấm dứt hợp đồng lao động với người lao...

Công ty có phải thông báo trước khi hợp đồng lao động hết thời hạn không?

Từ 1/1/2021, khi Bộ luật lao động 2019 có hiệu lực thi hành, công ty không phải thông báo với người lao động khi hợp đồng lao động hết thời...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi