• Thứ tư, 25/05/2022 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 1131 Lượt xem

Thời điểm mở thừa kế 

Tại khoản 1 Điều 633 BLDS 2005 đã quy định: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này”. 

Thời điểm và địa điểm mở thừa kế là một nội dung quan trọng nhằm xác định việc thừa kế trong những trường hợp nhất định. Vậy thời điểm mở thừa kế là gì? Pháp luật dân sự quy định thế nào về nội dung này?Khách hàng quan tâm những nội dung trên vui lòng theo dõi nội dung bài viết trên để biết thêm thông tin hữu ích.

Thời điểm mở thừa kế là gì?

Tại khoản 1 Điều 633 BLDS 2005 đã quy định: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này”

Theo quy định trên thì thời điểm mở thừa kế được xác định theo hai trường hợp sau đây: 

– Nếu cái chết của người có tài sản là cái chết thực tế (còn gọi là chết sinh học) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản của họ chính là thời điểm họ chết.

– Nếu cái chết của người để lại di sản là cái chết pháp lý (bị Toà án tuyên bố là đã chết) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản của họ sẽ được xác định theo ngày, nhưng là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81” của BLDS 2005. 

Phân tích về thời điểm mở thừa kế

TH1: Nếu cái chết của người có tài sản là cái chết thực tế (còn gọi là chết sinh học) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản của họ chính là thời điểm họ chết

Hiện nay, luật và các văn bản dưới luật chưa có quy định cụ thể về đơn vị thời gian để tính “thời điểm đó là gì nên hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau về cách xác định.

Có quan điểm cho rằng, đã gọi là thời điểm thì buộc phải xác định chính xác đến từng phút, từng giây. Quan điểm khác lại cho rằng, việc xác định thời điểm chết của một người chính xác đến từng giây là một việc mà trong thực tế không thể làm được. Vì thế nên quy định thời điểm mở thừa kế được xác định theo ngày người để lại di sản chết. 

Theo chúng tôi, cái chết thực tế của một người có thể được xác định chính xác đến từng giây, từng phút ở trường hợp này nhưng có thể chỉ được xác định theo ngày ở trường hợp khác. Chẳng hạn, nếu trong trường hợp một người chết vì tuổi già và tắt thở trước sự chăm sóc tận tình của con cháu thì con cháu người đó biết chính xác thời điểm chết của người đó đến từng giây, từng phút và trong việc khai tử, con cháu của họ sẽ xác định chính xác theo thời khắc cụ thể. Theo khai tử, cơ quan có thẩm quyền sẽ xác định thời điểm chết của người đó theo giờ phút, ngày, tháng, năm trong giấy chứng tử. Tuy nhiên, nếu người khai tử chỉ xác định thời điểm chết của người được khai tử là ngày thì giấy chứng tử cũng chỉ có thể xác định theo ngày mà người khai tử đã xác định. 

Thậm chí, đối với trường hợp một xác chết được phát hiện thì không thể biết họ chết vào ngày nào. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật về hộ tịch thì Ủy ban nhân dân cơ sở nơi phát hiện được xác chết phải thông báo để cơ quan có thẩm quyền thực hiện khám nghiệm tử thi theo quy định của pháp luật và chính Ủy ban nhân dân này phải thực hiện thủ tục khai tử, chứng tử cho người xấu số này và giấy chứng tử phải xác định ngày chết của người này theo ngày phát hiện được xác chết. 

Chính vì lý do trên mà pháp luật không thể quy định về đơn vị thời gian cụ thể của thời điểm mở thừa kế đối với người có cái chết thực tế. Việc quy định “thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại di sản chết” là một quy định mở. Theo đó, khi xác định thời điểm mở thừa kế sẽ căn cứ vào sự xác định trong giấy chứng tử. Và vì vậy tùy theo giấy chứng tử mà thời điểm mở thừa kế có thể được xác định theo ngày hay chính xác đến giờ, phút. 

TH2: Nếu cái chết của người để lại di sản là cái chết pháp lý (bị Toà án tuyên bố là đã chết) thì thời điểm mở thừa kế đối với di sản của họ sẽ được xác định theo ngày, nhưng là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81” của BLDS 2005. 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của BLDS 1995 thì ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết được xác định theo ngày nào phải tuỳ vào từng trường hợp: 

 Trường hợp thứ nhất: Là ngày được Toà án xác định trong quyết định tuyên bố người đó là đã chết. Khi ra quyết định tuyên bố chết đối với cá nhân trong những trường hợp biết rõ lý do biệt tích và nếu theo những sự kiện thực tế xảy ra đã có đủ cơ sở để xác định ngày chết của họ thì Toà án sẽ xác định cụ thể về ngày chết của người đó trong quyết định tuyên bố một người là đã chết. Tuy nhiên, sự quy định trong khoản 2 Điều 91 BLDS 1995 chưa thật cụ thể và cho đến ngày BLDS được sửa đổi vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thi hành nên việc xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết còn chưa được thống nhất. Chẳng hạn, đối với cá nhân bị tuyên bố chết do bị tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai thì ngày chết của họ được xác định là ngày nào trong ba ngày sau: ngày xảy ra tai nạn, thiên tai, thảm hoạ; ngày kết thúc tại nạn, thiên tai, thảm hoạ; ngày tròn một năm kể từ ngày tai nạn, thiên tai, thảm hoạ đó chấm dứt? 

Trường hợp thứ hai: Là ngày quyết định tuyên bố cá nhân đã chết của Toà án có hiệu lực pháp luật. Xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết theo cách này thường được áp dụng trong những trường hợp không có cơ sở để xác định một cách cụ thể về ngày chết của người đó vì sự biệt tích của họ không rõ lý do. Thông thường đó là trường hợp người để lại di sản đã bị Toà án tuyên bố mất tích và sau đó bị tuyên bố là đã chết vì sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức gì về sự sống còn của người đó hoặc trường hợp người để lại di chúc bị tuyên bố chết vì đã biệt tích năm năm và cũng không rõ lý do về sự biệt tích của họ. 

Như vậy, khi quy định về việc xác định ngày chết của cá nhân bị tuyên bố là đã chết, BLDS 1995 không bắt buộc Toà án phải xác định ngày đó một cách cụ thể trong mọi trường hợp. Hay nói cách khác, khi quy định về ngày mở thừa kế đối với di sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết, BLDS 1995 đã xác định theo một trong hai trường hợp (hoặc là ngày được Toà án xác định cụ thể trong quyết định tuyên bố chết, hoặc là ngày quyết định đó có hiệu lực pháp luật). Sự quy định của pháp luật về việc xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết theo ngày có hiệu lực của quyết định nhằm dự phòng cho những trường hợp không thể xác định cụ thể được ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết. Tuy nhiên, quy định này đã gây ra nhiều bất cập trong đời sống thực tế.

Ví dụ: Anh M yêu cầu Toà án tuyên bố ông A (bố của M) là đã chết để hưởng thừa kế số tài sản của ông A vì ông A đã mất tích quá năm năm không rõ lý do. Toà án ra quyết định tuyên bố ông A là đã chết nhưng quyết định đó chưa có hiệu lực (vì chưa hết thời hạn kháng nghị, kháng cáo) thì anh M đã chết vì bị tai nạn. Trong vụ việc trên thì ngày chết của ông A được xác định theo ngày quyết định tuyên bố chết của Toà án có hiệu lực pháp luật nghĩa là sau ngày anh M chết nên anh M không được hưởng di sản thừa kế mà ông A để lại. Logic pháp lý này hoàn toàn trái ngược với tính thực tế của vụ việc là chính anh M yêu cầu Toà án tuyên bố về cái chết của ông A nhưng lại bị coi là người đã chết trước ông A. 

Tình huống giả định trên cho chúng ta thấy rằng nếu ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết được xác định theo ngày có hiệu lực pháp luật của quyết định tuyên bố chết sẽ gây ra bất cập trong nhiều trường hợp tương tự. 

Để khắc phục tình trạng bất cập trên, thời điểm mở thừa kế được quy định lại tại khoản 1 Điều 633 BLDS 2005 như sau: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này”, đồng thời việc xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết đã được quy định lại tại khoản 2 Điều 81 BLDS 2005 như sau: “Tuỳ từng trường hợp, Toà án xác định ngày chết của người bị thuyên bố là đã chết căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này”

Theo khoản 1 Điều 81 BLDS 2005 thì có bốn trường hợp sẽ tuyên bố là đã chết đối với một cá nhân (khi đủ các điều kiện mà luật đã quy định): 

Trường hợp thứ nhất: Cá nhân đã bị Toà án tuyên bố mất tích nhưng sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là người đó còn sống. 

Trường hợp thứ hai: Cá nhân biệt tích trong chiến tranh mà sau năm năm kể từ ngày cuộc chiến tranh đó kết thúc nhưng vẫn không có tin tức xác thực là họ còn sống. 

Trường hợp thứ ba: Cá nhân biệt tích trong vụ tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai mà sau một năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thiên tai, thảm họa đó chấm dứt nhưng vẫn không có tin tức xác thực là họ còn sống. 

Trường hợp thứ tư: Cá nhân biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống kể từ ngày có tin tức cuối cùng của người đó. 

Như vậy, khi quy định về việc xác định ngày chết của cá nhân bị tuyên bố là đã chết, BLDS 2005 bắt buộc Toà án phải xác định cụ thể về ngày chết của người đó căn cứ vào bốn trường hợp nói trên. Hay nói cách khác, theo quy định của BLDS 2005 thì thời điểm mở thừa kế đối với người bị Toà án tuyên bố là đã chết bao giờ cũng là ngày chết của cá nhân đó được Toà án xác định cụ thể trong quyết định tuyên bố chết (mà không xác định theo ngày quyết định tuyên bố chết có hiệu lực pháp luật). Bên cạnh sự tiến bộ trong quy định về vấn đề này, chúng tôi cho rằng BLDS 2005 vẫn còn thiếu sót khi không đưa ra các tiêu chí cụ thể để Toà án làm cơ sở khi xác định về ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết. Chẳng hạn, đối với cá nhân bị tuyên bố chết do bị tai nạn hoặc thảm hoạ, | thiên tai thì ngày chết của họ được xác định là ngày nào trong ba ngày sau: ngày xảy ra tai nạn, thiên tai, thảm hoạ; ngày kết thúc tại nạn, thiên tai, thảm hoạ; ngày tròn một năm kể từ ngày tại nạn, thiên tai, thảm hoạ đó chấm dứt? Đối với cá nhân đã bị Toà án tuyên bố mất tích nhưng sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là người đó còn sống thì ngày chết của họ được xác định là ngày nào trong hai ngày sau: ngày tròn ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật hay ngày có tin tức cuối cùng của người đó? Để có sự thống nhất trong việc xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết giữa các Toà án, cơ quan có thẩm quyền cần ban hành kịp thời văn bản hướng dẫn về tiêu chí xác định. 

Theo chúng tôi, trong thực tế có rất nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho các cá nhân bị biệt tích dẫn đến việc Toà án ra quyết định tuyên bố là đã chết đối với họ nhưng nếu tựu trung lại thì chỉ có ba trường hợp sau: Cá nhân biệt tích lâu ngày mà không rõ lý do; cá nhân mất tích trong một vụ tai nạn, thiên tai, thảm hoạ; cá nhân mất tích trong chiến tranh. Theo đó, ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết được xác định theo các tiêu chí tương ứng với ba trường hợp trên như sau: 

– Nếu cá nhân bị tuyên bố chết do biệt tích lâu ngày mà không rõ lý do thì cần xác định ngày chết của người đó theo ngày có tin tức cuối cùng về sự sống còn của họ. 

– Nếu cá nhân bị tuyên bố chết do biệt tích trong một vụ tại nạn, thiên tai, thảm hoạ thì cần xác định ngày chết của người đó là ngày tròn một năm kể từ khi vụ tai nạn, thiên tai, thảm hoạ đó kết thúc. 

– Nếu cá nhân bị tuyên bố chết do bị biệt tích trong chiến tranh thì cần xác định ngày chết của người đó là ngày tròn năm năm kể từ khi cuộc chiến tranh đó kết thúc. 

 Ngoài ra, chúng tôi thấy rằng, cùng xác định về mốc thời gian để từ đó di chúc được coi là có hiệu lực mà pháp luật lại đưa ra hai đơn vị thời gian khác nhau là thời điểm và ngày như vậy sẽ không tránh khỏi sự khập khiễng. Hơn nữa, việc xác định cái chết theo thời điểm sẽ rất dễ xảy ra sự tranh chấp giữa những người thừa kế và làm cho cơ quan có thẩm quyền khó có thể đánh giá vấn đề một cách chính xác khi có tranh chấp xảy ra. 

Việc xác định chính xác thời điểm mở thừa kế đối với di sản của người chết để lại có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền lợi của người thừa kế cũng như các chủ thể liên quan khác. Xác định chính xác về thời điểm mở thừa kế sẽ là căn cứ để xác định chính xác các vấn đề sau đây: 

– Theo quy định tại Điều 635 BLDS 2005 thì người thừa kế nếu là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, nếu là cơ quan tổ chức phải là cơ quan, tổ chức còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Nếu người thừa kế là cá nhân sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế thì phải là người đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế. Vì thế, thời điểm mở thừa kế là mốc quan trọng trong việc xác định người thừa kế của người chết. 

– Theo quy định tại khoản 1 Điều 667 BLDS 2005 thì di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. Vì vậy, thời điểm mở thừa kế là căn cứ để xác định di chúc mà người chết để lại có hiệu lực từ thời điểm nào. 

– Di sản thừa kế là tài sản của một người để lại sau khi họ chết. Trong thực tế, tài sản mà người lập di chúc xác định trong di chúc có thể khác với tài sản mà họ để lại sau khi chết bởi có thể khi lập di chúc thì các tài sản đó vẫn còn nhưng sau đó các tài sản này bị tiêu huỷ, mất mát nhưng người lập di chúc vẫn để nguyên di chúc 

mà không xác định lại tài sản. Trong trường hợp này, cần phải căn cứ vào thời điểm người lập di chúc chết (thời điểm mở thừa kế) để xác định khối tài sản hiện còn. Chỉ những tài sản nào thuộc sở hữu của người đã chết hiện còn vào thời điểm mở thừa kế mới được coi là di sản của người chết để lại cho những người thừa kế. 

– Điều 636 BLDS 2005 đã quy định: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Theo đó chúng ta thấy rằng, việc xác định thời điểm mở thừa kế là căn cứ để xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. 

– Người thừa kế có thể từ chối quyền hưởng di sản của mình nhưng việc từ chối đó chỉ được thực hiện trong một thời hạn nhất định. Theo quy định tại Điều 642 BLDS 2005 thì thời hạn từ chối quyền hưởng di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Vì vậy, việc xác định thời điểm mở thừa kế cũng là xác định thời điểm bắt đầu của thời hạn từ chối nhận di sản. 

– Xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế. Điều 645 BLDS 2005 đã quy định thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Vì vậy, thời điểm mở thừa kế chính là mốc để xác định thời điểm bắt đầu của thời hiệu khởi kiện này. 

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Mua nhà vi bằng có làm sổ hồng được không?

Vi bằng không có giá trị thay thế cho hợp đồng được công chứng, chứng thực. Việc mua nhà bằng cách lập vi bằng là không Đúng với quy định của pháp...

Vi bằng nhà đất có giá trị bao lâu?

Hiện nay, pháp luật không có quy định về thời hạn giá trị sử dụng của vi bằng. Tuy nhiên, bản chất khi lập vi bằng được hiểu lập là để ghi nhận sự kiện, hành vi có thật bởi chủ thể có thẩm quyền do Nhà nước quy định và được đăng ký tại Sở Tư...

Mua xe trả góp có cần bằng lái không?

Với hình thức mua xe trả góp, người mua có thể dễ dàng sở hữu một chiếc xe mà không cần có sẵn quá nhiều...

Không có giấy phép lái xe có đăng ký xe được không?

Theo quy định pháp luật hiện hành, người mua xe hoàn toàn có quyền thực hiện các thủ tục đăng ký xe máy và pháp luật cũng không quy định bất kỳ độ tuổi cụ thể nào mới có thể được đứng tên xe. Do vậy, Ngay cả khi bạn chưa có bằng lái, bạn vẫn có thể thực hiện đăng ký xe bình...

Phí công chứng hợp đồng thuê nhà hết bao nhiêu tiền?

Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì việc thuê nhà bắt buộc phải lập thành hợp đồng nhưng không bắt buộc phải công chứng, chứng thực trừ khi các bên có nhu...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi