Điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ?
Điều 50 Bộ luật dân sự quy định về các điều kiện mà người giám hộ là pháp nhân cần phải đáp ứng. Theo đó, các điều kiện này gồm hai nhóm: năng lực pháp luật dân sự và các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện hoạt động giám hộ.
Điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ gồm những gì?
Điều 50 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ như sau:
“ Pháp nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1. Có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ.
2. Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.”
Tư vấn Điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ?
Điều 50 Bộ luật dân sự quy định về các điều kiện mà người giám hộ là pháp nhân cần phải đáp ứng. Theo đó, các điều kiện này gồm hai nhóm: năng lực pháp luật dân sự và các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện hoạt động giám hộ.
Cụ thể, pháp nhân là người giám hộ cần có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự.
Yêu cầu về sự phù hợp của năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không được giải thích cụ thể trong điều luật và rất khó để xác định. Có thể suy đoán rằng điều kiện này yêu cầu pháp nhân thực hiện các hoạt động trong các lĩnh vực có thể đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người giám hộ. Ví dụ như pháp nhân là tổ chức giáo dục, là cơ sở chữa bệnh.
Tuy nhiên, với những pháp nhân liên quan đến hoạt động giải trí đơn thuần (như Karaoke) hoặc liên quan đến các sản phẩm không được sử dụng ở lứa tuổi chưa thành niên (như bia rượu thuốc lá) sẽ không thực sự phù hợp với mục đích nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ người được giám hộ.
Bên cạnh đó, cũng giống như cá nhân, khi trở thành người giám hộ, pháp nhân được yêu cầu phải đáp ứng các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ. Điều kiện này có thể suy luận về các yêu cầu liên quan đến tài chính, nhân sự cũng như vị trí địa lý nơi có trụ sở, văn phòng, chi nhánh của pháp nhân.
Điều 50 Bộ luật dân sự năm 2015 là một điều luật hoàn toàn mới so với BLDS năm 2005. Trước đây, quy định của BLDS chỉ dừng lại ở điều kiện của cá nhân mà khuyết thiếu quy định về pháp nhân là người giám hộ. Do đó, BLDS năm 2015 đã bổ sung về điều kiện này. Tuy nhiên, có thể nhận thấy, các điều kiện được quy định tại Điều 50 là rất chung chung và mang tính khái quát quá cao. Cách quy định này khó có khả năng trở thành căn cứ hiệu quả và thiết thực để có thể áp dụng trên thực tế.
BÀI VIẾT MỚI NHẤT
Tuổi nghỉ hưu của sĩ quan quân đội năm 2025
Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam là cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực quân sự, được Nhà nước phong quân hàm cấp Úy, cấp Tá, cấp Tướng....
Quỹ đất công ích theo quy định mới nhất
Những địa phương có đất công ích đã giải quyết tốt việc cải tạo và chỉnh trang cơ sở hạ tầng nông thôn làm đổi mới bộ mặt nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền cơ sở trong việc xã hội hoá các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục thể thao ở nông...
Thủ tục sang tên quyền sử dụng đất
Tôi có 2 con, 1 cháu 19 tuổi và 1 cháu 8 tuổi. Tôi muốn chuyển tên sổ đỏ cho các con thì thủ tục như thế nào? Luật sư tư vấn...
Hiệu lực của văn bằng bảo hộ sáng chế bao lâu?
Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết hai mươi (20) năm kể từ ngày nộp...
Thời hạn góp vốn khi tăng vốn điều lệ năm 2025 là bao lâu?
Tăng vốn điều lệ không chỉ được áp dụng trong công ty trách nhiệm hữu hạn mà còn được thực hiện trong công ty cổ phần, công ty hợp danh. Hình thức tăng vốn, thời hạn góp vốn là những nội dung rất được quan...
Xem thêm