• Thứ tư, 25/05/2022 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 1008 Lượt xem

Di chúc hợp pháp là gì?

Một di chúc chỉ được coi là hợp pháp khi đã đáp ứng được đầy đủ các điều kiện mà pháp luật đã quy định. 

Chỉ có thông qua di chúc mới biết được ý nguyện về việc định đoạt tài sản của một người trước lúc chết như thế nào. Tuy nhiên, ý nguyện đó chỉ được thừa nhận và theo đó quá trình dịch chuyển di sản được thực hiện khi di chúc chứa đựng ý nguyện đó là một di chúc hợp pháp. Vậy di chúc hợp pháp là gì? Khách hàng quan tâm vui lòng theo dõi nội dung bài viết.

Khái niệm di chúc hợp pháp

Một di chúc chỉ được coi là hợp pháp khi đã đáp ứng được đầy đủ các điều kiện mà pháp luật đã quy định. 

Trước hết, với tư cách là một giao dịch dân sự nên di chúc muốn được coi là hợp pháp phải đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch đã được BLDS quy định tại Điều 122: 

“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: 

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; 

b) Mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; 

c) Người tham gia giap dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.” 

– Mặt khác, di chúc là một loại giao dịch đặc biệt, đồng thời chỉ có hiệu lực khi người lập ra nó đã chết nên việc lập di chúc không thể được thực hiện bằng cách uỷ quyền cho người khác thay mình lập di chúc. Do vậy, Điều 652 BLDS 2005 còn quy định: 

1. Di chúc được coi là hợp pháp khi có đủ các điều kiện sau đây: 

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; 

b) Nội dung của di chúc không trái với pháp luật, đạo đức xã hội, hình thức của di chúc không trái với quy định của pháp luật. 

2. Di chúc của người đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. 

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và phải có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này. 

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thổ hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”. 

Những quy định trên không chỉ là sự hướng dẫn của Nhà nước cho các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự nhằm bảo vệ lợi ích của chính mình mà còn là những quy phạm có tính bắt buộc các chủ thể phải tuân theo nhằm ngăn chặn những hành vi trái pháp luật xâm hại tới lợi ích của người khác, lợi ích của Nhà nước và của xã hội. Vì vậy, một di chúc muốn được coi là hợp pháp phải đáp ứng được các yếu tố mà pháp luật đã yêu cầu như sau: 

Điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp

Thứ nhất:  Người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự 

“Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 17 BLDS 2005).

Như vậy, một người chỉ được coi là có năng lực hành vi dân sự để tham gia các giao dịch khi người đó bằng khả năng của mình tiến hành các hành vi, qua đó bằng khả năng của mình để thực hiện các quyền, gánh vác các nghĩa vụ dân sự.

Năng lực hành vi dân sự là sự phù hợp giữa nhận thức lý trí của một người đối với hành vi mà họ thực hiện. Để có được sự phù hợp này, người lập di chúc phải ở một độ tuổi nhất định, phải có đủ nhận thức để kiểm soát được sự định đoạt của mình trong di chúc.

Thứ hai: Người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện 

Điều kiện này là sự cụ thể hoá nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận đã được quy định tại Điều 4 của BLDS 2005: “quyền tự do cam kết thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội….”

Tự nguyện được xem như biểu hiện của tự do lập di chúc và là một điều kiện để xem xét tính hợp pháp của di chúc. Là tự nguyện hiểu theo nghĩa khái quát là việc thực hiện theo ý mình, do mình mong muốn, không phụ thuộc vào bất kỳ một chủ thể nào khác.

Về mặt bản chất, tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí và sự bày tỏ ý chí. Vì vậy, khi đánh giá ý chí của một người về một vấn đề nào đó có phải là tự nguyện hay không, cần phải dựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai phạm trù: ý chí và sự bày tỏ ý chí đó. 

Thứ ba: Nội dung của di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội 

Nội dung của di chúc là tổng hợp các vấn đề mà người lập di chúc đã thể hiện trong di chúc đó. Vì vậy một di chúc chỉ được coi là hợp pháp nếu sự thể hiện trên không vi phạm những điều pháp luật đã cấm, không trái những điều pháp luật đã quy định. 

Ví dụ: Một di chúc sẽ bị coi là bất hợp pháp nếu trong di chúc đó, người lập di chúc đã định đoạt tài sản của người khác, định đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho một tổ chức phản động hoặc người lập di chúc cho một người hưởng tài sản nhưng lại kèm theo một điều kiện: Muốn hưởng di sản, người thừa kế theo di chúc phải gây ra một thiệt hại về tài sản hoặc về sức khoẻ của một người mà trước đó có mâu thuẫn với người lập di chúc. 

Ngoài ra, di chúc muốn được coi là hợp pháp thì nội dung của nó phải phù hợp với đạo đức xã hội. 

bản và tinh thần tương thân tương ái trong cộng đồng gia đình cũng như cộng đồng dân tộc. Vì thế nếu di chúc có nội dung trái với đạo đức xã hội cũng sẽ bị coi là không hợp pháp. 

Thứ tư: Hình thức của di chúc không trái với quy định của pháp luật 

 Điều 649 BLDS 2005 đã quy định: “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc văn bản thì có thể di chúc miệng”.

Như vậy, theo quy định của pháp luật về thừa kế thì việc lập di chúc chỉ có thể tiến hành theo một trong hai hình thức: Hoặc là bằng một văn bản, được gọi là di chúc viết (hay còn gọi là chúc thư) hoặc là thông qua lời nói, được gọi là di chúc miệng (hay còn gọi là chúc ngôn).

Theo quy định của pháp luật, tất cả các di chúc được thể hiện bằng hình thức văn bản phải đáp ứng các yêu cầu chung về nội dung, đồng thời mỗi một thể thức cụ thể của di chúc viết phải tuân theo một trình tự tương ứng. Để bản di chúc viết của mình có hiệu lực pháp luật, người lập di chúc cần quan tâm tới các yêu cầu sau đây: 

– Di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc 

– Di chúc phải ghi rõ họ tên, nơi cư trú của người lập di chúc 

– Di chúc phải ghi rõ họ, tên người, tên cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản. 

– Di chúc phải ghi rõ di sản để lại và nơi có di sản 

– Di chúc phải ghi rõ việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ 

– Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và đều phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc 

– Hình thức di chúc bằng văn bản (di chúc viết) có nhiều loại khác nhau, bao gồm: Di chúc bằng văn bản không có người làm chúng; di chúc bằng văn bản có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có công chứng, di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện trong từng trường hợp cụ thể mà người để lại di sản có quyền lựa chọn để lập di chúc viết theo một trong những loại trên. Tuy nhiên, quyền lựa chọn việc lập di chúc theo loại nào không đồng nghĩa với việc tuỳ tiện hay cẩu thả trong khi lập di chúc. Người lập di chúc phải tuân theo đúng thể thức, trình tự mà pháp luật đã quy định tươnứng với từng loại di chúc.

Ví dụ: Đối với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Để đảm bảo di chúc thật sự là phương tiện phản ánh ý nguyện cuối cùng của người chết một cách trung thực, di chúc lập theo thể thức này phải tuân thủ đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật đã quy định chung đối với mọi di chúc được lập theo hình thức văn bản. Ngoài ra, tính xác thực của loại di chúc viết này thể hiện ở di chúc do chính tay người lập di chúc viết và ký.

Do đó nếu di chúc bằng văn bản không có người làm chứng mà lại là một bản đánh máy thì bản di chúc đó sẽ không được thừa nhận dù rằng có chữ ký của người lập di chúc. Tương tự, nếu bạn di chúc đó không có chữ ký của người lập di chúc cũng sẽ không được thừa nhận dù di chúc đó do chính tay họ viết ra. 

Đối với loại di chúc này, Điều 655 BLDS 2005 đã quy định người lập di chúc phải tự tay ký vào bản di chúc (mà không quy định điểm chỉ). Trên thực tế, tính xác thực của điểm chỉ cao hơn nhiều so với chữ ký nhưng có lẽ các nhà xây dựng pháp luật cho rằng khi một người đã viết được là ký được, chữ trong di chúc do chính tay người đó viết đã là căn cứ để có thể xác định di chúc đó là do chính họ lập ra, cộng thêm chữ ký của họ trong di chúc thì di chúc đã quá đủ độ tin cậy, mặt khác, việc điểm chỉ chỉ cần thiết đối với những người không biết chữ, không viết, không ký được. Vì vậy, các nhà xây dựng pháp luật không quy định việc điểm chỉ trong loại di chúc này. 

Trên đây là một số thông tin chúng tôi muốn cung cấp đến quý khách hàng về di chúc hợp pháp là gì? Khách hàng tham khảo nội dung bài viết có vướng mắc vui lòng phản hồi trực tiếp để được nhận hỗ trợ.

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Mua nhà vi bằng có làm sổ hồng được không?

Vi bằng không có giá trị thay thế cho hợp đồng được công chứng, chứng thực. Việc mua nhà bằng cách lập vi bằng là không Đúng với quy định của pháp...

Vi bằng nhà đất có giá trị bao lâu?

Hiện nay, pháp luật không có quy định về thời hạn giá trị sử dụng của vi bằng. Tuy nhiên, bản chất khi lập vi bằng được hiểu lập là để ghi nhận sự kiện, hành vi có thật bởi chủ thể có thẩm quyền do Nhà nước quy định và được đăng ký tại Sở Tư...

Mua xe trả góp có cần bằng lái không?

Với hình thức mua xe trả góp, người mua có thể dễ dàng sở hữu một chiếc xe mà không cần có sẵn quá nhiều...

Không có giấy phép lái xe có đăng ký xe được không?

Theo quy định pháp luật hiện hành, người mua xe hoàn toàn có quyền thực hiện các thủ tục đăng ký xe máy và pháp luật cũng không quy định bất kỳ độ tuổi cụ thể nào mới có thể được đứng tên xe. Do vậy, Ngay cả khi bạn chưa có bằng lái, bạn vẫn có thể thực hiện đăng ký xe bình...

Phí công chứng hợp đồng thuê nhà hết bao nhiêu tiền?

Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì việc thuê nhà bắt buộc phải lập thành hợp đồng nhưng không bắt buộc phải công chứng, chứng thực trừ khi các bên có nhu...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi