Trang chủ » Lao động » Hỏi đáp luật lao động » Thỏa ước lao động tập thể theo quy định của Luật lao động mới nhất

Thỏa ước lao động tập thể theo quy định của Luật lao động mới nhất

  • Luật Hoàng Phi |
  • Cập nhật: 22/02/2020 |
  • Hỏi đáp luật lao động |
  • 5670 Lượt xem

Thỏa ước lao động tập thể được ký kết giữa đại diện tập thể người lao động và đại diện người lao động hoặc người lao động. Hội nghị người lao động được tổ chức theo quy định tại nghị định số 60/2013/NĐ-CP

Câu hỏi:

Chào Luật sư! Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn giúp tôi vấn đề sau về thỏa ước lao động tập thể theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 đó là việc doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn có bắt buộc ký thỏa ước lao động tập thể hay không ? Trong trường hợp nào doanh nghiệp phải ký thỏa ước lao động tập thể và điều kiện để doanh nghiệp tổ chức hội nghị người lao động là như thế nào? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Cảm ơn câu hỏi của bạn ! Về câu hỏi này, trung tâm tư vấn pháp luật Hoàng Phi xin được trả lời bạn như sau:

Thứ nhất, về thỏa ước lao động tập thể theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 thì :

Một là, tại khoản 1 Điều 73 Bộ luật Lao động năm 2012 có quy định rằng thỏa ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể.

Hai là, tại Điều 74 Bộ luật Lao động năm 2012 có quy định về việc ký kết thỏa ước lao động tập thể như sau:

“Điều 74. Ký kết thỏa ước lao động tập thể

1.Thỏa ước lao động tập thể được ký kết giữa đại diện tập thể lao động với người sử dụng lao động hoặc đại diện người sử dụng lao động.

2. Thỏa ước lao động tập thể chỉ được ký kết khi các bên đã đạt được thỏa thuận tại phiên họp thương lượng tập thể và:

a) Có trên 50% số người của tập thể lao động biểu quyết tán thành nội dung thương lượng tập thể đã đạt được trong trường hợp ký thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp;

b) Có trên 50% số đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên cơ sở biểu quyết tán thành nội dung thương lượng tập thể đã đạt được trong trường hợp ký thỏa ước lao động tập thể ngành;

c) Đối với hình thức thỏa ước lao động tập thể khác theo quy định của Chính phủ.

3. Khi thoả ước lao động tập thể được ký kết, người sử dụng lao động phải công bố cho mọi người lao động của mình biết”.

Từ đây ta có thể thấy rằng, thỏa ước lao động tập thể được ký kết giữa đại diện tập thể lao động với người sử dụng lao động hoặc đại diện người sử dụng lao động. Mà đại diện tập thể lao động theo quy định của pháp luật chính là công đoàn (có thể là công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên trực tiếp nơi doanh nghiệp chưa có công đoàn). Do đó, doanh nghiệp không bắt buộc phải có công đoàn thì mới có thỏa ước lao động tập thể vì đại diện công đoàn cấp trên trực tiếp có quyền ký thỏa ước lao động tập thể tại những doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở. Và thỏa ước lao động tập thể chỉ được ký kết trong trường hợp các bên đã đạt được thỏa thuận tại phiên họp tập thể kèm theo các điều kiện như quy định tại khoản 2 Điều 74 Bộ luật Lao động năm 2012 như trên.

Thỏa ước lao động tập thể theo quy định của Luật lao động năm 2012

Thứ hai: Quy định về hội nghị người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 mà cụ thể là tại Nghị định số 149/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cơ chế dân chủ cơ sở tại nơi làm việc thì :” 1. Hội nghị người lao động do người sử dụng lao động và tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở tổ chức thực hiện. Hội nghị người lao động được tổ chức ít nhất một năm một lần”.

Theo đó thì doanh nghiệp có từ 10 người lao động trở lên phải tổ chức hội nghị người lao động, hội nghị người lao động được tổ chức 12 tháng một lần và hội nghị người lao động được tổ chức theo hình thức hội nghị toàn thể đối với doanh nghiệp có dưới 100 lao động, theo hình thức hội nghị đại biểu đối với doanh nghiệp có từ 100 lao động trở lên. Cũng theo quy định tại nghị định này thì trách nhiệm tổ chức hội nghị người lao động thuộc về :

Một là, người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng quy chế tổ chức hội nghị người lao động, bố trí địa điểm, thời gian, các điều kiện vật chất cần thiết và tổ chức hội nghị người lao động. Quy chế tổ chức hội nghị người lao động được ban hành sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và phải được phổ biến công khai đến người lao động trong doanh nghiệp.

Hai là, tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở có trách nhiệm phối hợp với người sử dụng lao động tham gia xây dựng và thực hiện quy chế tổ chức hội nghị người lao động.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.


Quý vị có thể tham khảo mục HỎI – ĐÁP Luật lao động để được giải đáp những thắc mắc có liên quan như:

Câu hỏi: Thỏa ước lao động tập thể phải lập thành mấy bản?

Tôi là Trần Xuân Phúc. Giám độc công ty  Hoa Mai. Do trong quá trình hoạt động có một số vấn đề, để bảo vệ quyền lợi của người lao động, tập thể lao động trong công ty đề nghị tiến hành thương lương tập thể và lập thỏa ước lao động tập thể trong phạm vi doanh nghiệp. Luật sư cho tôi hỏi, khi giao kết thỏa ước lao động tập thể, các bên kí kết bao gồm những ai? Và thỏa ước lao động tập thể phải lập thành mấy bản.

Trả lời:

Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất, người kí kết thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp

Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể trong phạm vi doanh nghiệp.

Theo quy định Điều 83 Bộ Luật lao động 2012: “1. Người ký kết thoả ước lao động tập thể doanh nghiệp được quy định như sau:

a) Bên tập thể lao động là đại diện tập thể lao động tại cơ sở;

b) Bên người sử dụng lao động là người sử dụng lao động hoặc người đại diện của người sử dụng lao động”.

Như vậy, người tham gia kí kết thỏa ước lao động tập thể phải đúng thẩm quyền. Nếu kí sai thẩm quyền sẽ dẫn đến thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.

Thứ hai, Thoả ước lao động tập thể doanh nghiệp phải làm thành 05 bản, trong đó:

–  Mỗi bên ký kết giữ 01 bản;

–  01 bản gửi cơ quan nhà nước theo quy định tại Điều 75 của Bộ luật này;

–  01 bản gửi công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở và 01 bản gửi tổ chức đại diện người sử dụng lao động mà người sử dụng lao động là thành viên.

Do đó, theo quy định trên thì thỏa ước lao động sau khi kí kết xong phải được lập thành 05 bản do tập thể lao động, người sử dụng lao động, Cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh đối với thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, công đoàn cấp trên trực tiếp,tổ chức đại diện người sử dụng lao động nắm giữ.

Thời hạn của thỏa ước lao động tập thể  là từ 01 đến 03 năm. công ty bạn mới kí kết thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp lần đầu tiên thì có thể kí kết với thời hạn dưới 01 năm.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.