Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Tư vấn Luật Dân sự Ai không được quyền hưởng di sản thừa kế
  • Thứ tư, 25/05/2022 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 598 Lượt xem

Ai không được quyền hưởng di sản thừa kế

Người không được quyền hưởng di sản quy định trong Điều 643 BLDS 2005 bao gồm cả người thừa kế theo pháp luật, cả người thừa kế theo di chúc.

Người không được quyền hưởng di sản quy định trong Điều 643 BLDS 2005 bao gồm cả người thừa kế theo pháp luật, cả người thừa kế theo di chúc. Vậy pháp luật quy định cụ thể như thế nào về Ai không được quyền hưởng di sản thừa kế? Khách hàng quan tâm vui lòng theo dõi nội dung bài viết.

Ai là người không được quyền hưởng di sản?

Người không được quyền hưởng di sản quy định trong Điều 643 BLDS 2005 bao gồm cả người thừa kế theo pháp luật, cả người thừa kế theo di chúc. Đó là những người đáng lẽ được hưởng di sản vì họ là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản hoặc đã được người lập di chúc cho họ hưởng những những người này lại có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản theo pháp luật cũng như theo di chúc.

Tuy nhiên, tính trái pháp luật và đạo đức trong hành vi của người thừa kế phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định bằng một bản án hoặc bằng một quyết định. 

Bình luận về người không được quyền hưởng di sản

Người không được quyền hưởng di sản bao gồm những trường hợp sau đây: 

Trường hợp thứ nhất: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiệm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó. 

Căn cứ pháp lý để tước quyền hưởng di sản của những người thừa kế khi họ có những hành vi nói trên phải là một bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật. Nói cách khác, dù người thừa kế có hành vị nói trên nhưng không bị kết án thì họ vẫn được hưởng di sản.

Hoặc đã bị kết án nhưng bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì cũng chưa có căn cứ để tước bỏ quyền hưởng di sản của họ. Một bản án chỉ được thi hành khi đã có hiệu lực pháp luật bởi nó có thể bị sai sót và có thể bị một cấp xét xử khác sửa đổi hoặc huỷ bỏ.

Để có sự chính xác khi quyết định những người có hành vi nói trên không được hưởng di sản trong trường hợp này cơ quan có thẩm quyền cần phải xác định rõ các vấn đề sau đây: 

+ Vấn đề thứ nhất: Về hành vi “xâm phạm đến tính mạng”. Khi người thừa kế xâm phạm đến tính mạng của người để lại di sản thì dù không vì động cơ có trục lợi, không phải vì mục đích để được hưởng di sản họ vẫn bị tước bỏ quyền hưởng di sản. Tuy nhiên, hành vi đó phải mang lỗi cố ý. Nếu họ vô ý làm thiệt hại đến tính mạng của người để lại di sản và dù đã bị kết án bằng một bản án hình sự có hiệu lực pháp luật, họ vẫn không bị tước bỏ quyền hưởng di sản.

+ Vấn đề thứ hai: Như thế nào là ngược đãi nghiêm trọng, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản. 

Sự ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự nhận phẩm của người để lại di sản là những đối xử trái pháp luật và vô đạo đức thường được thực hiện thông qua hành động chửi mắng, nhục mạ, bỏ mặc, bắt ăn đói, mặc rách làm cho người để lại di sản đau đớn về mặt tinh thần, danh dự bị xúc phạm, dày vò và khốn khổ về mặt thể xác.

Trường hợp thứ hai: Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản. 

Sự giúp đỡ vật chất, quan tâm chăm sóc về tinh thần giữa các thành viên trong gia đình vốn là truyền thống của dân tộc Việt Nam và đã được pháp luật về hôn nhân gia đình nước ta xác định là một nghĩa vụ pháp luật. 

Người thừa kế bị coi là có hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng là người được Luật Hôn nhân và Gia đình xác định có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản nhưng họ không thực hiện nghĩa vụ đó. Theo quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2000 của nước ta thì người thừa kế được xác định là người có nghĩa vụ cấp dưỡng người để lại thừa kế trong những trường hợp sau đây: 

+ Người để lại thừa kế là cha, mẹ của họ: 

Tại khoản 2 Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã quy định: “Con có nghĩa vụ và có quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”. Theo quy định này thì con phải chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ trong trường hợp cha mẹ ốm đau, già yếu, bệnh tật. Vì vậy, con sẽ không được quyền hưởng di sản của cha, mẹ nếu không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha, mẹ. 

+ Người để lại thừa kế là con của họ: 

Nếu như nghĩa vụ của con là phải chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ thì ngược lại cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con khi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống bản thân mình (khoản 1 Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình 2000). Cha mẹ luôn là người thừa kế theo pháp luật đối với di sản do con để lại nhưng đồng thời cha mẹ sẽ không được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của con nếu cha mẹ không thực hiện việc nuôi dưỡng con khi người con đó năm trong tình trạng nói trên. 

Ngược lại một người chỉ có thể lập di chúc để định đoạt tài sản khi đã có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc trên mười lăm tuổi dù chưa đủ mười tám tuổi nhưng có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ.

Vì vậy, cha mẹ có thể là người thừa kế theo di chúc của con trong ba trường hợp: Người con đó đã thành niên có năng lực hành vi dân sự, người con đó đã tròn mười lăm tuổi, người con đó đã thành niên nhưng bị tàn tật (không bị mất năng lực hành vi dân sự).

Trong đó, cha mẹ chỉ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con người để lại di sản) trong hai trường hợp sau. Vì vậy, chỉ có thể tước quyền hưởng di sản theo di chúc của cha mẹ trong hai trường hợp này nếu họ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng. 

+ Người để lại thừa kế theo di chúc là anh, chị hoặc em của họ. 

Theo quy định của Điều 48 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 thì anh, chị, em có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con. 

Như vậy, nghĩa vụ nuôi dưỡng của anh, chị, em (người thừa kế theo di chúc) đối với người để lại thừa kế khi người này nằm trong tình trạng trên, đồng thời họ là người chưa thành niên (tròn mười lăm nhưng chưa đủ mười tám tuổi) hoặc là người bị tàn tật nhưng không bị mất năng lực hành vi. 

+ Người để lại thừa kế là ông, bà của họ. 

Luật Hôn nhân và gia đình 2000 cũng đã xác định cháu có nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà (khoản 2 Điều 47). Vì vậy, nếu người thừa kế theo di chúc là cháu mà không thực hiện nghĩa vụ này sẽ không được quyền hưởng di sản theo di chúc mà ông, bà đã xác định. 

+ Người để lại thừa kế là cháu của họ. 

Ông, bà nội ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi dưỡng mình đồng thời cũng không có cha mẹ, anh chị em có thể nuôi dưỡng được (khoản 1 Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình 2000).

 Vì thế, nếu người để lại thừa kế là cháu nằm trong tình trạng trên mà ông bà là người thừa kế nhưng không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng thì họ sẽ không được quyền hưởng di sản của cháu. Nếu người cháu có đủ năng lực hành vi để lập di chúc và trong di chúc đó, ông bà đưc hưởng thừa kế theo di chúc nhưng sau đó người cháu lại lâm vào tình trạng cần được nuôi dưỡng và ông bà là người có nghĩa vụ đó nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ thì ông bà cũng không được quyền hưởng di sản theo di chúc của người cháu. 

+ Người để lại thừa kế là vợ, hoặc chồng của họ. 

Luật Hôn nhân và gia đình 2000 không xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa vợ và chồng mà chỉ xác định nghĩa vụ cấp dưỡng lẫn nhau giữa họ khi ly hôn.

Trường hợp thứ ba: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng. 

Cũng giống trường hợp thứ nhất, chỉ có thể tước bỏ quyền hưởng di sản của người thừa kế trong trường hợp này khi hành vi “xâm phạm đến tính mạng người thừa kế khác của họ là hành vi cố ý và đã bị Toà án kết án bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên, khi tước bỏ quyền hưởng di sản của người thừa kế ở trường hợp thứ nhất không cần xét đến động cơ, mục đích của hành vị thì ở trường hợp này, người thừa kế phạm tội chỉ bị tước quyền hưởng di sản nếu hành vi phạm tội của họ chứa đựng động cơ là nhằm để hưởng phần di sản mà người thừa kế khác có quyền hưởng. 

Nếu người bị kết án về hành vi xâm phạm đến tính mạng của người thừa kế khác có động cơ nói trên thì Toà án phải xác định động cơ đó trong bản án hình sự vì nó được coi là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 1999). 

Vì vậy, khi giải quyết việc thừa kế trong trường hợp này Toà án cần căn cứ vào việc xác định động cơ của người phạm tội trong bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật để quyết định có tước bỏ quyền hưởng di sản của người thừa kế đã bị kết tội hay không. 

Trường hợp thứ tư: Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. 

Điểm d khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 đã quy định người thừa kế nói chung (ca theo pháp luật, cả theo di chúc) không được hưởng di sản khi “có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý của người để lại di sản”. 

Trong năm hành vi liệt kê tại điều luật trên thì bốn hành vi đầu (lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc và giả mạo di chúc) sẽ làm phát sinh các trường hợp thừa kế theo pháp luật (vì di chúc không có hiệu lực). Hai hành vi sau (sửa chữa, huỷ di chúc) sẽ làm phát sinh tranh chấp trong một vụ án thừa kế theo di chúc. Vì lẽ đó, chúng tôi sẽ xem xét cả năm trường hợp sau đây: 

+ Hành vi lừa dối người để lại di sản nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. 

Lừa dối đối với người để lại di sản là việc cung cấp một thông tin sai sự thật làm cho người để lại di sản tin vào thông tin đó mà lập một di chúc trái với ý nguyện đích thực của mình. Người thực hiện hành vi này có thể chính là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản nhưng có thể là người ngoài diện thừa kế theo pháp luật.

+ Hành vi cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc 

Đây là hành vi tác động đến tâm lý, tinh thần của người để lại di sản buộc họ phải lập một di chúc để định đoạt di sản trái với ý nguyện đích thực của họ. Cũng giống với trường hợp trên, hành vi cưỡng ép ngăn cản người để lại di sản cũng có thể do người thừa kế theo pháp luật hoặc do người ngoài diện thừa kế theo pháp luật thực hiện. Vì vậy, hậu quả pháp lý cũng được xác định giống trường hợp trên. 

+ Hành vi giả mạo di chúc 

Là việc xác lập một di chúc giả cả nội dung lẫn hình thức nhằm làm cho người khác tin rằng đó là di chúc do người chết để lại. 

Giả mạo di chúc nhằm hướng tới sự có lợi cho một hoặc một số người nhất định trong việc hưởng di sản mà việc hưởng lợi này hoàn toàn trái với ý chí của người đã chết người bị giả mạo di chúc). 

+ Hành vi sửa chữa di chúc mà người để lại di sản đã lập 

Đây là hành vi của một người trong việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung của di chúc mà người để lại di sản đã lập. 

Với mục đích nhằm hưởng kỷ phần di sản nhiều hơn so với phần di sản mà người lập di chúc đã định đoạt cho mình hoặc nhằm hưởng toàn bộ di sản của người lập di chúc nên dù đã có tên trong di chúc nhưng người thừa kế này vẫn thực hiện hành vi nói trên. Ngoài ra, có thể là hành vi của người không có tên trong di chúc nên sửa di chúc để mình được hưởng di sản theo di chúc đó. Hành vị của những người này xâm phạm đến ý chí tự nguyện của người lập di chúc và xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của những người thừa kế khác. Vì thế, họ sẽ bị tước bỏ quyền hưởng di sản. 

+ Hành vi huỷ di chúc mà người để lại di sản đã lập 

Thông thường, người có hành vi huỷ di chúc là người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc nhưng trong di chúc đó họ không có tên trong số những người được hưởng di sản theo di chúc. Vì vậy, họ huỷ di chúc nhằm để việc thừa kế được giải quyết theo pháp luật và họ sẽ được hưởng kỷ phần theo luật định.

Khi người có tên trong di chúc không được quyền hưởng di sản trong những trường hợp được xác định trên đây thì phần di chức liên quan đến những người này sẽ không có hiệu lực pháp luật nên phân di sản đáng ra người đó sẽ được hưởng theo di chúc sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản.

Tuy nhiên, khi xác định việc tước bỏ quyền hưởng di sản của người thừa kế trong các trường hợp nói trên cần phải tôn trọng quyền định đoạt của người lập di chúc, do vậy, vẫn cho những người nói trên được hưởng di sản “nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho hưởng di sản theo di chúc” (khoản 2 Điều 643 BLDS 2005). Dựa vào mối tương quan giữa thời điểm lập di chúc với thời điểm xảy ra hành vi trái pháp luật của người thừa kế, đồng thời dựa vào quy định trên của pháp luật thì cần xác định người thừa kế có hành vi trái pháp luật có bị tước quyền hưởng di sản hay không theo bốn tình huống sau: 

+ Nếu hành vi trái pháp luật của người có tên trong di chúc xảy ra trước khi người để lại di sản lập di chúc thì người đó vẫn được hưởng di sản theo di chúc (nếu người lập di chúc đã biết hành vị đó). 

+ Nếu hành vi trái pháp luật của người thừa kế theo di chúc xảy ra sau khi người để lại di sản lập di chúc mà người đã lập di chúc không có ý kiến gì khác thì người thừa kế theo di chúc có hành vi nói trên sẽ không được hưởng di sản. Vì vậy, phần di chúc liên quan đến người đó sẽ không có hiệu lực pháp luật và phần di sản của người đó sẽ được chia theo pháp luật. LÀ H + Nếu hành vi trái pháp luật của người thừa kế theo di chúc xảy ra sau khi người để lại di sản lập di chúc nhưng người để lại di sản đã thể hiện ý chí của mình về việc vẫn cho người đó hưởng di sản theo di chúc đã lập thì họ vẫn được hưởng di sản theo di chúc đó. 

+ Nếu hành vi trái pháp luật của người thừa kế xảy ra trước, sau đó người để lại di sản mới lập di chúc cho người có hành vi đó hưởng di sản vì không biết hành vi của người đó thì người đó vẫn không được hưởng quyền di sản. Trong tình huống này, việc xác định người lập di chúc biết hay không biết hành vi trái pháp luật của người thừa kế theo di chúc là một yếu tố quan trọng trong việc xác định người thừa kế có hành vi đó có được hưởng di sản hay không. Trong thực tế, để được hưởng di sản theo di chúc người có hành vi nói trên phải chứng minh được rằng người để lại di sản lập di chúc khi đã biết hành vi đó của mình.

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Mua nhà vi bằng có làm sổ hồng được không?

Vi bằng không có giá trị thay thế cho hợp đồng được công chứng, chứng thực. Việc mua nhà bằng cách lập vi bằng là không Đúng với quy định của pháp...

Vi bằng nhà đất có giá trị bao lâu?

Hiện nay, pháp luật không có quy định về thời hạn giá trị sử dụng của vi bằng. Tuy nhiên, bản chất khi lập vi bằng được hiểu lập là để ghi nhận sự kiện, hành vi có thật bởi chủ thể có thẩm quyền do Nhà nước quy định và được đăng ký tại Sở Tư...

Mua xe trả góp có cần bằng lái không?

Với hình thức mua xe trả góp, người mua có thể dễ dàng sở hữu một chiếc xe mà không cần có sẵn quá nhiều...

Không có giấy phép lái xe có đăng ký xe được không?

Theo quy định pháp luật hiện hành, người mua xe hoàn toàn có quyền thực hiện các thủ tục đăng ký xe máy và pháp luật cũng không quy định bất kỳ độ tuổi cụ thể nào mới có thể được đứng tên xe. Do vậy, Ngay cả khi bạn chưa có bằng lái, bạn vẫn có thể thực hiện đăng ký xe bình...

Phí công chứng hợp đồng thuê nhà hết bao nhiêu tiền?

Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì việc thuê nhà bắt buộc phải lập thành hợp đồng nhưng không bắt buộc phải công chứng, chứng thực trừ khi các bên có nhu...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi