• Thứ ba, 14/05/2024 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 1121 Lượt xem

Hội đồng tiền lương quốc gia

Hội đồng tiền lương quốc gia là cơ quan tư vấn cho Chính phủ về mức lương tối thiểu và chính sách tiền lương đối với người lao động.

Hội đồng tiền lương quốc gia là gì?

Theo Điều 92 Bộ luật lao động, Hội đồng tiền lương quốc gia được giải thích như sau:

1. Hội đồng tiền lương quốc gia là cơ quan tư vấn cho Chính phủ về mức lương tối thiểu và chính sách tiền lương đối với người lao động.

2. Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng tiền lương quốc gia bao gồm các thành viên là đại diện của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, một số tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở trung ương và chuyên gia độc lập.

3. Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng tiền lương quốc gia. 

Bình luận quy định về Hội đồng tiền lương quốc gia

Hội đồng tiền lương quốc gia là thiết chế ba bên cấp quốc gia. Trong lĩnh vực quan hệ lao động, Việt Nam hiện có 02 thiết chế ba bên 

cấp quốc gia là Ủy ban Quan hệ lao động và Hội đồng tiền lương quốc gia. Ủy ban Quan hệ lao động là thiết chế do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, có chức năng tư vấn cho Thủ tướng về các giải pháp phát triển quan hệ lao động nói chung, Hội đồng tiền lương quốc gia có chức năng tư vấn cụ thể về lương tối thiểu và chính sách tiền lương đối với người lao động. 

Hội đồng tiền lương quốc gia được luật định lần đầu tiên trong BLLĐ năm 2012 với tên gọi là Hội đồng tiền lương quốc gia. Theo BLLĐ năm 2012, Nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ về tiền lương (Chương II quy định Hội đồng tiền lương quốc gia) mới chỉ quy định chức năng của Hội đồng là tư vấn cho Chính phủ về lương tối thiểu, không có nội dung tư vấn về chính sách tiền lương khác đối với người lao động, theo đó đến BLLĐ năm 2019, ngoài duy trì chức năng tư vấn về mức lương tối thiểu thì BLLĐ năm 2019 đã bổ sung chức năng tư vấn chính sách tiền lương đối với người lao động, việc bổ sung này là phù hợp với tên gọi và chức năng vốn có của Hội đồng như kinh nghiệm nhiều nước đã thực hiện. 

Về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng tiền lương quốc gia quy định tại khoản 3 Điều 92 được giao cho Chính phủ quy định chi tiết. Khi triển khai BLLĐ năm 2012, Chính phủ đã có Nghị định số 49/2013/NĐ-CP quy định chi tiết nội dung này. Theo đó, trên nền tảng những sửa đổi, bổ sung về Hội đồng tiền lương quốc gia trong BLLĐ năm 2019, Chính phủ sẽ quy định chi tiết các nội dung, trong đó:

– Về chức năng, chi tiết hóa chức năng tư vấn về mức lương tối thiểu xác lập theo vùng bao gồm mức lương tối thiểu theo tháng, mức lương tối thiểu theo giờ và tư vấn về chính sách tiền lương đối với người lao động theo quy định của BLLĐ. 

– Về nhiệm vụ, Hội đồng thực hiện các nghiên cứu, khảo sát, thu thập thông tin, phân tích, đánh giá và xây dựng các báo cáo về các yếu tố xác định mức lương tối thiểu theo quy định của BLLĐ; xây dựng phương án mức lương tối thiểu theo tháng, mức lương tối thiểu theo giờ và phân vùng địa bàn áp dụng; tổ chức thương lượng trên cơ sở đó khuyến nghị với Chính phủ việc điều chỉnh mức lương tối thiểu theo tháng và theo giờ; tư vấn, khuyến nghị về chính sách tiền lương áp dụng chung đối với người lao động theo quy định của BLLĐ. 

– Về cơ cấu tổ chức, bao gồm các quy định về số lượng, cơ cấu, tiêu chuẩn của các thành viên Hội đồng; thẩm quyền và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thành viên Hội đồng: 

+ Về số lượng thành viên, trên nền tảng cơ cấu 17 thành viên quy định tại Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, gồm đại diện Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (05 thành viên), đại diện của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (05 thành viên), đại diện của một số tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở trung ương (05 thành viên), bổ sung thành viên là chuyên gia độc lập với yêu cầu đây là những chuyên gia, nhà khoa học về lĩnh vực lao động, tiền lương, kinh tế – xã hội và không thuộc diện đang công tác tại viện nghiên cứu, trường đại học thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

+ Về cơ cấu tổ chức, duy trì trên nền tảng quy định tại Nghị định số 145/2000/NĐ-CP, Hội đồng có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các thành viên khác; trong đó Chủ tịch là Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ điều hành hoạt động chung của Hội đồng; các Phó Chủ tịch (gồm 01 Phó Chủ tịch Hội đồng là Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, 01 Phó Chủ tịch Hội đồng là Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và 01 Phó Chủ tịch Hội đồng là Phó Chủ tịch Liên minh hợp tác xã Việt Nam) có nhiệm vụ điều hành các hoạt động nội bộ của các bên. 

Chủ tịch Hội đồng tiền lương quốc gia và ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội bổ nhiệm, miễn nhiệm các thành viên khác của Hội đồng tiền lương quốc gia. Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên Hội đồng tiền lương quốc gia làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Nhiệm kỳ bổ nhiệm thành viên Hội đồng tiền lương quốc gia không quá 05 năm. 

+ Hội đồng có Bộ phận kỹ thuật và Bộ phận thường trực để giúp Hội đồng, Chủ tịch Hội đồng xây dựng các báo cáo kỹ thuật liên quan đến nhiệm vụ của Hội đồng và thực hiện công tác hành chính của Hội đồng. Thành viên Bộ phận kỹ thuật và Bộ phận thường trực là người của các cơ quan tham gia thành viên Hội đồng, các cơ quan, tổ chức có liên quan, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. 

– Về hoạt động, Hội đồng làm việc theo chế độ tập thể, theo sự điều hành của Chủ tịch Hội đồng, thảo luận dân chủ, công khai, quyết định dựa trên biểu quyết theo đa số; Hội đồng có con dấu riêng thay vì được quản lý tại Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền thành lập Hội đồng, BLLĐ năm 2019 giao cho Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cụ thể, theo đó trên cơ sở Nghị định của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động, Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với các chức danh chủ chốt (Chủ tịch, các Phó Chủ tịch) và ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội bổ nhiệm, miễn nhiệm các thành viên khác để bảo đảm tính linh hoạt trong quá trình thực hiện. 

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Cho đến khi hết hạn hợp đồng thì tôi không có nhu cầu kí tiếp hợp đồng lao động với công ty nữa. Luật sư cho tôi hỏi khi chấm dứt hợp đồng lao động công ty tôi có trách nhiệm...

Hướng dẫn hội nghị người lao động mới nhất 2025

Đối với công ty cổ phần, cần hướng dẫn Hội nghị người lao động nên tổ chức trước Đại hội đồng cổ đông để những kiến nghị của Hội nghị người lao động thuộc thẩm quyền quyết định của chủ sở hữu sẽ được trình bày và giải quyết kịp thời tại Đại hội đồng cổ dông của doanh nghiệp....

Bộ luật lao động quy định về Công đoàn cơ sở như thế nào?

Công đoàn cơ sở thuộc hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam được thành lập ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp. Việc thành lập, giải thể, tổ chức và hoạt động của Công đoàn cơ sở được thực hiện theo quy định của Luật Công đoàn....

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là gì?

Công ty được đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động....

Không nhận người lao động trở lại làm việc sau khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật thì bồi thường thế nào?

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là việc người lao động hoặc người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động mà không tuân thủ các quy định mà pháp luật cho phép mỗi bên được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt. Vậy Không nhận người lao động trở lại làm việc sau khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật thì bồi thường thế...

Xem thêm

0981.378.999
Online