Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Tư vấn Luật Lao động – Tiền Lương Học nghề là gì? Tập nghề là gì theo Bộ luật lao động?
  • Thứ ba, 14/05/2024 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 2707 Lượt xem

Học nghề là gì? Tập nghề là gì theo Bộ luật lao động?

Người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình thì không phải đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp; không được thu học phí, phải ký hợp đồng đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

Khái niệm Học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động

Khái niệm Học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động được Bộ luật lao động quy định tại Điều 61, cụ thể như sau:

1. Học nghề để làm vic cho người sử dụng lao động là vic người sử dụng lao động tuyển người vào để đào tạo nghề nghiệp tại nơi làm việc. Thời gian học nghề theo chương trình đào tạo của từng trình độ theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

2. Tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động là việc người sử dụng lao động tuyển người vào để hướng dẫn thực hành công việc, tập làm nghề theo vị trí việc làm tại nơi làm việc. Thời hạn tập nghề không quá 03 tháng. 

3. Người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình thì không phải đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp; không được thu học phí, phải ký hợp đồng đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

4. Người học nghề, người tập nghề phải đủ 14 tuổi trở lên và phải có đủ sức khỏe phù hợp với yêu cầu học nghề, tập nghề. Người học nghề, người tập nghề thuộc danh mục nghề, công vic nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành phải từ đủ 18 tuổi trở lên, trừ lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao.

5. Trong thời gian học nghề, tập nghề, nếu người học nghề, người tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động thì được người sử dụng lao động trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận.

6. Hết thời hạn học nghề, tập nghề, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động khi đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật này.

Tư vấn quy định về Học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động 

Đây là quy định có nhiều điểm mới trong Chương này, cụ thể là: 

Thứ nhất: Bổ sung khái niệm học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động. Trước đây, BLLĐ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định cụ thể giải thích thế nào là học nghề, tập nghề. Khi BLLĐ năm 2019 ra đời đã lấp khoảng trống này và là cơ sở để các bên xác định rõ quan hệ học nghề hay tập nghề, tránh nhầm lẫn giữa quan hệ học nghề, tập nghề với quan hệ lao động.

Theo Điều 61 BLLĐ năm 2019, cần phân biệt giữa hai trường hợp học nghề và tập nghề. Học nghề là khái niệm chỉ việc học kiến thức, kỹ năng nghề một cách bài bản, có người hướng dẫn, giáo cụ và chương trình, phương pháp riêng. Người học nghề là người chưa có kiến thức, kỹ năng về nghề nghiệp nên người sử dụng lao động phải đào tạo.

Còn tập nghề là khái niệm chỉ việc dạy thực hành nghề, mục tiêu là thực hành thành thạo để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh. Người tập nghề là người đã có kiến thức, kỹ năng về nghề nghiệp và được người sử dụng lao động tuyển vào để hướng dẫn thực hành theo một vị trí nhất định. 

Thứ hai: Quy định cụ thể về thời gian học nghề, thời hạn tập nghề. Xuất phát từ bản chất khác nhau giữa học nghề và tập nghề nên thời gian học nghề, tập nghề cũng được quy định khác nhau. Cụ thể là, thời gian học nghề được thực hiện theo chương trình đào tạo của từng trình độ theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, còn thời hạn tập nghề được quy định rõ tối đa không quá 03 tháng.

Quy định này là cần thiết nhằm tránh việc người sử dụng lao động lợi dụng việc học nghề, tập nghề để trốn tránh nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. 

Thứ ba: Quy định rõ hơn về việc ký hợp đồng đào tạo. Theo đó, khi tuyển người vào học nghề, tập nghề, BLLĐ năm 2019 quy định hai bên phải ký hợp đồng đào tạo nghề. Với việc dẫn chiếu tại khoản 3 Điều 61 BLLĐ năm 2019 sang Luật Giáo dục nghề nghiệp, các bên có thể hiểu rõ hơn về nội dung của loại hợp đồng này.

Cụ thể, theo Điều 39 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, khi doanh nghiệp tuyển người vào đào tạo để làm việc cho doanh nghiệp thì hợp đồng đào tạo phải có những nội dung chủ yếu như sau: 

+ Tên nghề đào tạo hoặc các kỹ năng nghề đạt được;

+ Địa điểm đào tạo;

+ Thời gian hoàn thành khóa học;

+ Mức học phí và thanh toán học phí; 

+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi bên khi vi phạm hợp đồng; 

+ Thanh lý hợp đồng;

+ Các thỏa thuận khác không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

+ Cam kết của người học về thời hạn làm việc cho doanh nghiệp; 

+ Cam kết của doanh nghiệp về việc sử dụng lao động sau khi học xong; 

+ Thỏa thuận về thời gian và mức tiền công cho người học trực tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp trong thời gian 

đào tạo. 

+ Hợp đồng đào tạo theo hình thức kèm cặp nghề tại doanh nghiệp ngoài các nội dung trên thì hai bên phải có thỏa thuận thời gian bắt đầu được trả công và mức tiền công trả cho người học theo từng thời gian. 

Thứ tư: Quy định rõ hơn vđộ tuổi học nghề, tập nghề đối với nghề thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trừ lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao. Cụ thể là người học, tập trong danh mục các nghề này đòi hỏi phải từ đủ 18 tuổi trở lên (trừ lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao). 

Thứ năm: Điều luật đã quy định người sử dụng lao động phải trả lương nếu người học nghề, người tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động. Có thể thấy quy định này của luật đã bảo vệ quyền lợi của người lao động hơn so với quy định trước đây (người học nghề, tập nghề khi trực tiếp hoặc tham gia lao động phải làm ra sản phẩm hợp quy cách mới được trả lương).

Như vậy, người sử dụng lao động không thể trốn tránh trả lương cho người lao động bằng cách đưa ra nhiều tiêu chuẩn khác nhau để một sản phẩm được coi là hợp quy cách. 

Việc quy định một cách cụ thể về học nghề, tập nghề như BLLĐ năm 2019 sẽ giúp hạn chế những bất cập có thể xảy ra trên thực tiễn như: Doanh nghiệp áp dụng thời gian đào tạo nghề, tập nghề rất dài nhằm trốn tránh nghĩa vụ khi giao kết hợp đồng lao động và nghĩa vụ tham gia các loại bảo hiểm bắt buộc do không có quy định cụ thể về việc người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người học nghề, tập nghề; một số doanh nghiệp lợi dụng, bóc lột sức lao động của người học nghề, tập nghề do chưa có pháp luật điều chỉnh về tiền lương đối với nhóm người này.

->>>>>> Tham khảo thêm: Giấy phép lao động

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn được hiểu như thế nào?

Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn được hiểu như thế nào? Cùng chúng tôi tìm hiểu để có thêm thông tin giải đáp qua bài viết này...

Thời gian thử việc đối với trình độ đại học là bao lâu?

Thời gian thử việc đối với trình độ đại học là bao lâu? là thắc mắc được chúng tôi chia sẻ, làm rõ trong bài viết này. Mời Quý vị theo dõi, tham...

Hành vi nào được xem là tiết lộ bí mật kinh doanh?

Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh...

Ai có thẩm quyền ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động?

Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động là văn bản do người sử dụng lao động ban hành nhằm thông báo việc chấm dứt hợp đồng lao động với người lao...

Công ty có phải thông báo trước khi hợp đồng lao động hết thời hạn không?

Từ 1/1/2021, khi Bộ luật lao động 2019 có hiệu lực thi hành, công ty không phải thông báo với người lao động khi hợp đồng lao động hết thời...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi