Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Tư vấn Luật Lao động – Tiền Lương Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng có phải báo trước không?
  • Thứ ba, 14/05/2024 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 839 Lượt xem

Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng có phải báo trước không?

Hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng, công nhân trong doanh nghiệp không quay trở lại làm việc. Luật sư cho tôi hỏi, tôi có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng với công nhân đó không? Tôi có phải báo cho công nhân đó không?

Câu hỏi:

Tôi là Nguyễn Minh Thuận. Năm nay tôi 27 tuổi. Tôi là Giám đốc doanh nghiệp X. Tôi có kí với một người lao động hợp đồng thời vụ kéo dài 11 tháng. Trong thời gian làm việc, làm đến tháng thứ 7 công nhân đó bị vướng vào vụ trộm cắp và bị tạm giam 2 tháng, công ty đã tạm hoãn hợp đồng với công nhân đó. Nhưng sau khi ra ngoài công nhân đó không quay trở lại làm việc. Luật sư cho tôi hỏi, tôi có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng với công nhân đó không? Tôi có phải báo cho công nhân đó không?

Trả lời:

Thứ nhất, bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Căn cứ Khoản 1 Điểm d Điều 36 Bộ Luật lao động 2019:

Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

Thêm vào đó Điều 31 quy định: 

Điều 31. Nhận lại người lao động hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết nếu hợp đồng lao động còn thời hạn, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

Như vậy, vì công nhân trong công ty bạn bị tạm giam nên công ty tiến hành hoãn thực hiện hợp đồng lao động với người lao đông là hợp pháp Khi hết thời gian tạm hoãn, người lao động trở lại làm việc thì người sử dụng lao động nhận người lao động vào làm việc, nếu không có thỏa thuận khác.

Tuy nhiên, trong thời hạn 15 ngày, sau thời gian tạm hõan hợp đồng mà người lao động không quay trở lại làm việc thì bạn là Giám đốc doanh nghiệp có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng với công nhân đó. 

Thứ hai, thời hạn báo trước:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 Bộ Luật lao động 2019:

” 2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Do vậy, khi công nhân đó không quay trở lại làm việc sau thời gian tạm hõa hợp đồng. Trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng với người lao động, bạn phải báo trước cho họ ít nhất 03 ngày làm việc

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn được hiểu như thế nào?

Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn được hiểu như thế nào? Cùng chúng tôi tìm hiểu để có thêm thông tin giải đáp qua bài viết này...

Thời gian thử việc đối với trình độ đại học là bao lâu?

Thời gian thử việc đối với trình độ đại học là bao lâu? là thắc mắc được chúng tôi chia sẻ, làm rõ trong bài viết này. Mời Quý vị theo dõi, tham...

Hành vi nào được xem là tiết lộ bí mật kinh doanh?

Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh...

Ai có thẩm quyền ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động?

Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động là văn bản do người sử dụng lao động ban hành nhằm thông báo việc chấm dứt hợp đồng lao động với người lao...

Công ty có phải thông báo trước khi hợp đồng lao động hết thời hạn không?

Từ 1/1/2021, khi Bộ luật lao động 2019 có hiệu lực thi hành, công ty không phải thông báo với người lao động khi hợp đồng lao động hết thời...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi