• Thứ tư, 25/05/2022 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 1398 Lượt xem

Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền

Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài.

Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền là gì?

Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền là một trong các phương thức bảo vệ quyền dân sự được Bộ luật dân sự ghi nhận tại Điều 14, theo đó, Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân.

Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài.

Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án.

Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng, trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ Chuật này được áp dụng.

Tư vấn Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền

1. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân. 

Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm hoặc có tranh chấp, thì chủ thể có quyền dân sự bị xâm phạm có thể sử dụng các biện pháp để bảo vệ theo quy định của pháp luật dân sự như: tự bảo vệ, ngăn cản, truy tìm, đòi lại tài sản, thực hiện các biện pháp tác động… hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc trọng tài bảo vệ. Việc bảo vệ quyền dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng tại Điều 4 Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đây còn được gọi là quyền khởi kiện.

Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án.

Người có quyền dân sự có thể yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định để đáp ứng yêu cầu của mình, nhưng người có nghĩa vụ có thể thực hiện hoặc không tùy thuộc vào khả năng thực tế và thiện chí của họ.

Rõ ràng, quyền yêu cầu của chủ thể có quyền còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố của người có nghĩa vụ như hoàn cảnh khách quan, ý chí chủ quan của người đó. Khi người có nghĩa vụ không thực hiện những hành vi đáp ứng quyền lợi cho người có quyền thì người có quyền có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ.

2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng. 

Đây là nội dung hoàn toàn mới chưa được quy định trong các bộ luật năm 1995, năm 2005, lần đầu được quy định trong BLDS năm 2015. Để bảo vệ quyền tuyệt đối của chủ thể trong quan hệ dân sự khi bị xâm phạm cũng như do sự đa dạng, phong phú và tính phức tạp của các quan hệ dân sự trong đời sống xã hội mà các nhà làm luật chưa thể dự liệu ngay được.

Với quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng sẽ tạo thuận lợi cho các chủ thể trong quan hệ dân sự khi bị xâm phạm luôn được pháp luật dân sự tôn trọng, bảo vệ.

Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm và chủ thể có quyền dân sự bị xâm phạm có yêu cầu, thì Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng… Đây có thể xem là quy định có tính chất truyền thống trong BLDS nhiều nước trên thế giới.

Trước đây, kế thừa Bộ Dân luật Pháp năm 1804, quy định này cũng đã được ghi nhận tại Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật năm 1936 và sau này là Bộ Dân luật của Việt Nam cộng hòa năm 1972.

Điều thứ 5, Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật năm 1936 đã quy định: “Phàm quan Thẩm phán nào viện lẽ rằng luật không định, luật không rõ hay là luật không đủ mà thoái thác không xử một việc gì thì có thể bị truy cứu và nghị xử về tội bất khẳng thụ lý như Điều 188 luật hình đã định”. 

Ghi nhận một quy định có tính chất truyền thống của pháp luật dân sự, nhưng khoản 2 Điều 14 mới chỉ ra việc phải áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật để lấp “khoảng trống” của pháp luật, mà chưa có chế tài cụ thể khi Tòa án “từ chối giải quyết vụ, việc dân sự”.

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Nghỉ việc ngày 15 thì báo giảm bảo hiểm tháng nào?

Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động khi hợp đồng lao động chấm...

Làm gì để đòi lại được đất đã cho mượn?

Bố mẹ tôi cho một người họ hàng mượn đất để canh tác từ năm 2000. Năm 2015, vì cần sử dụng đất nên bố mẹ tôi đòi lại mảnh đất này thì biết người này đã làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không trả đất lại cho nhà tôi. Gia đình tôi phải làm gì để đòi lại được đất đã cho...

Khi nào công an xã được dừng xe?

Công an xã thực hiện chức năng đảm bảo an ninh, trật tự tại địa phương nơi mình quản lý. Khi nào công an xã được dừng...

Mẫu đơn xin gia nhập công đoàn mới nhất năm 2025

Đơn xin gia nhập công đoàn là một loại mẫu đơn để đề nghị xin được kết nạp vào tổ chức công đoàn Việt Nam do người lao động soạn thảo để xin kết nạp vào trong tổ chức công đoàn cơ...

Trường hợp đình chỉ việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công

Tòa án có thẩm quyền bằng hành vi của mình theo pháp luật chấm dứt việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công đã thụ lý, tiếp nhận đưa vào quá trình giải...

Xem thêm

0981.378.999
Online