Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Phân chia di sản thừa kế khi không thỏa thuận được?
  • Thứ ba, 24/10/2023 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 3119 Lượt xem

Phân chia di sản thừa kế khi không thỏa thuận được?

Gia đình ông bà tôi có 4 người con, ông tôi và bà nội tôi đã mất được 19 năm. Vậy xin hỏi Luật sư, với tình huống này sẽ giải quyết như thế nào khi không thỏa thuận được và dẫn đến có tranh chấp xảy ra? Tôi xin chân thành cảm ơn !

 

 Câu hỏi:

Xin chào Luật sư công ty Luật Hoàng Phi !

Gia đình ông bà tôi có 4 người con, ông tôi và bà nội tôi đã mất được 17 năm. Người con trai thứ 3 cũng đã qua đời sau nhiều năm mắc bệnh hiểm nghèo. Ông bà tôi có để lại một mảnh đất bao gồm cả đất vườn và đất ở nhưng khi ông bà mất thì không để lại di chúc. Đến nay những người con còn sống của ông bà thỏa thuận muốn chia di sản gồm đất và căn nhà đó cho người con trai út của ông bà là một nửa mảnh đất và số đất còn lại sẽ chia đều cho 2 người con còn lại và vợ con của người con trai thứ 3 đã mất. Nhưng khi thỏa thuận thì vợ và con của người con trai thứ 3 cũng muốn được hưởng thêm căn nhà với lý do người con trai út của ông bà đã có nhà mới xây rồi. Vậy xin hỏi Luật sư, với tình huống này sẽ giải quyết như thế nào khi không thỏa thuận được và dẫn đến có tranh chấp xảy ra ? Tôi xin chân thành cảm ơn !

Trả lời:

Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

 Thứ nhất: Quy định về chia di sản thừa kế theo pháp luật

Theo thông tin bạn đã cung cấp thì ông bà bạn mất và không để lại di chúc nên khi có yêu cầu về chia di sản thừa kế thì những di sản này sẽ được chia theo pháp luật đã được quy định tại Khoản 1 Điều 675 Bộ luật dân sự 2005:

Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1.Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

….

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.”

Tiếp đó, căn cứ theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 có quy định như sau:

“Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

…….

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Như vậy, theo như quy định trên thì chỉ cần là người thuộc một trong số các trường hợp được quy định trên thì sẽ được hưởng một phần trong khối tài sản của người chết để lại khi họ không để lại di chúc và những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Theo đó, các con, cháu của ông bà đều sẽ được hưởng một phần tài sản gồm nhà và đất  do ông bà để lại.

 Phân chia di sản thừa kế khi không thỏa thuận được?

Phân chia di sản thừa kế khi không thỏa thuận được?

Thứ hai: Về phân chia di sản thừa kế khi không có di chúc và thỏa thuận giữa những người có quyền hưởng không thành

Căn cứ theo quy định của pháp luật thì khi người mất không để lại di chúc thì di sản đó sẽ được chia theo pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn, vì ông bà bạn đã mất cách đây 19 năm, có nghĩa là đã đã vượt quá quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế được quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự 2005:

Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”

Theo đó, thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế theo như quy định trên sẽ là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Do đó, trường hợp của bạn thì thời hiệu để các thành viên trong gia đình bạn yêu cầu chia di sản thừ kế do ông bà nội để lại là mười năm kể từ khi ông bà bạn mất. Tuy nhiên, thời hạn 10 năm đã hết nên không thể áp dụng điều luật về thời hiệu khởi kiện để phân chia mà phải áp dụng theo quy định tại Nghị quyết 02/2004/NQ – HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004.

Căn cứ theo quy định tại phần 2.4 Mục I Nghị quyết 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc chia tài sản chung trong trường hợp hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau:

“2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền… thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.”

Căn cứ theo quy định này thì trong trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ. Khi đối chiếu với việc chia di sản thừa kế khi hết thời hiệu khởi kiện, mà có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

Tóm lại, trong trường hợp này, tuy không còn quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế nhưng bạn vẫn có quyền khởi kiện để xin chia tài sản chung theo quy định của pháp luật. Và nếu một trong các thành viên trong gia đình có yêu cầu được chia tài sản chung mà ông bà bạn để lại thì có thể làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân cấp Huyện nơi có tài sản là nhà và đất nói trên để yêu cầu chia tài sản chung.

 Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.  

Đánh giá bài viết:
5/5 - (1 bình chọn)

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Thỏa thuận ngõ đi chung có nên lập vi bằng không?

Theo văn bản pháp luật thì Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định 08/2020/NĐ-CP ngày...

Người được ủy quyền có được phép ủy quyền cho người khác không?

Người được ủy quyền có được phép ủy quyền cho người khác không? Khi có thắc mắc này, Quý độc giả đừng bỏ qua những chia sẻ của chúng tôi trong bài viết này...

Giao tiền đặt cọc mua nhà có nên lập vi bằng không?

Khi đặt cọc mua bán đất, nếu hai bên lựa chọn lập vi bằng thì đồng nghĩa với việc sự kiện đặt cọc mua bán đất được lập giữa bên mua và bên bán đã diễn ra dưới sự chứng kiến trực tiếp của Thừa phát...

Cho mượn nhà có nên lập vi bằng không?

Việc lập vi bằng cho thuê nhà sẽ được Thừa phát lại thực hiện một cách khách quan và trung thực, mô tả chính xác những sự kiện và hành vi diễn ra. Thừa phát lại sẽ chịu trách nhiệm đối với tính trung thực của vi bằng, trong khi các bên tham gia sẽ chịu trách nhiệm đối với các thoả thuận của...

Cho thuê nhà nên lập vi bằng hay công chứng hợp đồng thuê nhà?

Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy  định của pháp luật; là căn cứ để thực hiện giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi