Trang chủ » Hôn nhân » Hỏi đáp luật hôn nhân » Ly hôn mà sổ đỏ đứng tên bố chồng thì có được chia quyền sử dụng đất không?

Ly hôn mà sổ đỏ đứng tên bố chồng thì có được chia quyền sử dụng đất không?

(Cập nhật: 31/08/2018 | 13:23)

Vợ chồng tôi lấy nhau năm 2008. Sau đó 2 năm chúng tôi xây nhà, được bố chồng tặng cho một mảnh đất nhưng chưa sang tên. Bây giờ ly hôn thì có được chia quyền sử dụng đối với đất và nhà ở không

Câu hỏi:

Xin chào Luật sư, tôi là Nguyễn Bích Ngọc, tôi có một thắc mắc liên quan đến chia tài sản ly hôn xin được Luật sư tư vấn như sau:

Vợ chồng tôi lấy nhau từ năm 2008, khi đó vì không có nhà cửa nên chúng tôi vẫn ở chung với bố mẹ. Sau khi đi làm được 2 năm tích lũy được một số tiền chúng tôi xây nhà. Bố chồng tôi có cho chúng tôi một mảnh đất để làm nhà. Tuy nhiên chúng tôi vẫn chưa làm thủ tục sang tên sổ đỏ mới. Tiền xây nhà là tiền do hai vợ chồng tôi tích cóp có được. Thế nhưng vì cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn, chồng tôi đối xử không tốt, không chung thủy với tôi nên chúng tôi quyết định ly hôn. Vậy tôi muốn hỏi Luật sư trường hợp này tôi có được chia tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở khi ly hôn không khi mà sổ đỏ đứng tên của bố chồng tôi?

 

Trả lời:

Xin chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến công ty Luật Hoàng Phi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo như bạn trình bày, trường hợp của bạn, vợ chồng bạn được bố chồng bạn cho một mảnh đất để hai vợ chồng xây nhà nhưng hiện tại vẫn chưa làm thủ tục sang tên sổ đỏ mới. Tiền xây nhà là do hai vợ chồng bạn bỏ ra. Và hiện nay vợ chồng bạn ly hôn, bạn đang không biết mình có được chia tài sản là quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở hay không?

Để được chia tài sản khi ly hôn thì tài sản này phải là tài sản chung của hai vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Cụ thể, căn cứ theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Ly hôn mà sổ đỏ đứng tên bố chồng thì có được chia quyền sử dụng đất không?

Ly hôn mà sổ đỏ đứng tên bố chồng thì có được chia quyền sử dụng đất không?

Thứ nhất: Đối với quyền sử dụng đất.

Vì bạn không nêu rõ việc bố chồng bạn tặng cho hai vợ chồng bạn mảnh đất này có được lập thành văn bản và được công chứng hoặc chứng thực hay không nên chúng tôi xin tư vấn theo ba trường hợp, đó là:

+ Nếu mảnh đất này được bố chồng bạn tặng cho mảnh đất này cho cả hai vợ chồng bạn, được công chứng, chứng thực thì đây là tài sản thuộc sở hữu chung của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, khi ly hôn bạn sẽ được chia quyền sử dụng đối với mảnh đất này.

+ Nếu mảnh đất này được bố chồng bạn tặng cho cả hai vợ chồng bạn mà không lập thành văn bản, không được công chứng hoặc chứng thực thì hợp đồng tặng cho sẽ không được pháp luật thừa nhận. Vì vậy, trên thực tế đất này vẫn thuộc quyền sở hữu của bố chồng bạn. Do đó, khi ly hôn vợ chồng bạn sẽ không được phân chia quyền sử dụng đối với mảnh đất này.

+ Nếu mảnh đất này được bố chồng bạn làm hợp đồng tặng cho, có công chứng, chứng thực đầy đủ cho riêng chồng bạn thì đây sẽ là tài sản thuộc sở hữu riêng của chồng bạn. Vì vậy sẽ không được đem ra phân chia khi vợ chồng bạn ly hôn.

Thứ hai: Đối với ngôi nhà được xây dựng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bạn.

Đây là tài sản do hai vợ chồng bỏ tiền ra cùng nhau xây dựng nên sẽ được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng.  Do đó, nếu bạn chứng minh được công sức đóng góp của mình là bao nhiêu thì bạn và chồng bạn sẽ được phân chia với phần giá trị tương ứng. Còn nếu không chứng minh được công sức đóng góp của mình thì quyền sở hữu ngôi nhà sẽ được chia theo nguyên tắc chia đôi nếu như các bên không chứng minh được công sức đóng góp của mình vào việc xây dựng căn nhà này theo quy định tại Điều 59 luật hôn nhân gia đình 2014:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong trường hợp này mảnh đất được tặng cho chung nhưng nếu chưa làm thủ tục sang tên thì vẫn sẽ xác định đây chưa là tài sản chung của hai vợ chồng nên bạn sẽ không được quyền yêu cầu chia tài sản chung đối với mảnh đất này. Do đó, để được chia tài sản là quyền sử dụng đất đối với mảnh đất này, trước tiên vợ chồng bạn cần làm thủ tục sang tên sổ đỏ. Sau đó việc phân chia tài sản sẽ được thực hiện theo những quy định nêu trên.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.