Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra
  • Thứ ba, 24/10/2023 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 4723 Lượt xem

Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra

Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường…

 

1. Quy định về bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra theo Bộ luật dân sự 2015.

Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra

Con người chỉ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình khi họ có nhận thức để ỉàm chủ hành vi đó. Vì vậy, nếu người gây thiệt hại không có hoặc mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của mình thì họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, nguyên tắc này sẽ không áp dụng đối với những người tự mình dùng chất kích thích để tự đưa mình vào tình trạng mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi mà gây ra thiệt hại cho người khác. Vì vậy, tại Điều 596  Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định như sau:

“1. Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.

2. Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.”

2. Tư vấn và bình luận về các quy định về bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra theo Bộ luật dân sự 2015.

Theo quy định trên thì khi người do uống rượu hoặc dùng chất kích thích khác gây ra thiệt hại thì việc bồi thường thiệt hại được xác định theo các trường hợp sau đây:

–  Nếu người gây thiệt hại đã tự mình uống rượu hoặc chất kích thích và tự đưa mình vào tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì họ phải hoàn toàn gánh chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bởi lẽ, người gây thiệt hại trong trường họp này là người mà trước đó họ hoàn toàn có khả năng nhận thức nên họ bị coi là có lỗi khi tự đưa mình “lâm vào” tình trạng mất khả năng nhận thức và vì thế, họ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả của hành vi đó. Thậm chí, họ còn phải chịu cả trách nhiệm hình sự nếu việc gây thiệt hại của họ đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại Bộ Luật Hình sự: “Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì van phải chịu trách nhiệm hình sự”.

–  Đối với trường hợp một người gây thiệt hại do người khác cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác để đưa họ vào tình trạng mất khả năng nhận thức mà gây thiệt hại: Trong trường hợp này, nếu người đã cố ý đưa người gây thiệt hại vào tình trạng nói trên có chứa đựng động cơ, mục đích là nhằm để người dùng rượu hoặc chất kích thích khác gây ra thiệt hại cho người khác thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường; nếu người đã cố ý cho người khác uống rượu hoặc dùng chất kích thích khác mà gây ra thiệt hại nhưng không chứa đựng động cơ, mục đích nói trên và người gây thiệt hại là người có năng lực hành vi dân sự thì người gây thiệt hại phải bồi thường.

Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra

–  Nếu người tự mình dùng rượu hoặc chất kích thích mà gây thiệt hại nhưng họ là người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự thì họ vẫn không phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trách nhiệm bồi thường trong tình huống này được xác định đối với cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đã gây ra thiệt hại.

–  Nếu người gây thiệt hại là người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi nhưng họ bị người khác cố ý cho họ dùng rượu hoặc chất kích thích khác mà gây ra thiệt hại thì người đã cho họ dùng rượu hoặc chất kích thích phải chịu trách nhiệm bồi thường kể cả khi việc cố ý cho những người này uống rượu hoặc dùng các chất kích thích khác không chứa đựng động cơ, mục đích nói trên.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

Đánh giá bài viết:
5/5 - (1 bình chọn)

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Thỏa thuận ngõ đi chung có nên lập vi bằng không?

Theo văn bản pháp luật thì Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định 08/2020/NĐ-CP ngày...

Người được ủy quyền có được phép ủy quyền cho người khác không?

Người được ủy quyền có được phép ủy quyền cho người khác không? Khi có thắc mắc này, Quý độc giả đừng bỏ qua những chia sẻ của chúng tôi trong bài viết này...

Giao tiền đặt cọc mua nhà có nên lập vi bằng không?

Khi đặt cọc mua bán đất, nếu hai bên lựa chọn lập vi bằng thì đồng nghĩa với việc sự kiện đặt cọc mua bán đất được lập giữa bên mua và bên bán đã diễn ra dưới sự chứng kiến trực tiếp của Thừa phát...

Cho mượn nhà có nên lập vi bằng không?

Việc lập vi bằng cho thuê nhà sẽ được Thừa phát lại thực hiện một cách khách quan và trung thực, mô tả chính xác những sự kiện và hành vi diễn ra. Thừa phát lại sẽ chịu trách nhiệm đối với tính trung thực của vi bằng, trong khi các bên tham gia sẽ chịu trách nhiệm đối với các thoả thuận của...

Cho thuê nhà nên lập vi bằng hay công chứng hợp đồng thuê nhà?

Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy  định của pháp luật; là căn cứ để thực hiện giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi