Tiền lương có được coi là tài sản riêng không?
Tiền lương trong thời kỳ hôn nhân có thể là tài sản riêng của vợ, chồng nếu có sự thỏa thuận trước khi kết hôn hoặc có sự phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.
Tiền lương có được coi là tài sản riêng không? Đây là thắc mắc sẽ được chúng tôi chia sẻ, làm rõ qua nội dung bài viết. Mời Quý vị theo dõi, tham khảo:
Quy định chung về sở hữu riêng
Căn cứ theo quy định của Bộ luật dân sự quy định hình thức sở hữu sẽ bao gồm: Sở hữu toàn dân, sở hữu chung, sở hữu riêng. Trong đó, sở hữu riêng được quy định như sau:
Điều 205. Sở hữu riêng và tài sản thuộc sở hữu riêng
1. Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân.
2. Tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
Điều 206. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng
1. Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác không trái pháp luật.
2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Như vậy, chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác không trái pháp luật và không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Vậy, tiền lương có được coi là tài sản riêng không? Cùng chúng tôi tìm hiểu trong nội dung tiếp theo của bài viết nhé!

Tiền lương có được coi là tài sản riêng không?
Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo khoản 1 Điều 90 Bộ luật lao động năm 2019. Nói cách khác, tiền lương chính là khoản thu nhập do lao động của một cá nhân.
Điều 221 Bộ luật dân sự quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu như sau:
Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong trường hợp sau đây:
1. Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.
2. Được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.
3. Thu hoa lợi, lợi tức.
4. Tạo thành tài sản mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến.
5. Được thừa kế.
6. Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên.
7. Chiếm hữu, được lợi về tài sản theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
8. Trường hợp khác do luật quy định.
Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Như vậy, nếu cá nhân chưa kết hôn thì tiền lương là tài sản của cá nhân do được xác lập trên cơ sở do lao động theo khoản 1 Điều 221 Bộ luật dân sự. Nếu cá nhân đã kết hôn, tiền lương thường là tài sản chung của vợ chồng theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình, tài sản này thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, tiền lương trong thời kỳ hôn nhân vẫn có thể được xác định là tài sản riêng. Chúng tôi sẽ chia sẻ về nội dung này trong phần tiếp theo của bài viết.
Khi nào tiền lương trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng?
Theo khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.
– Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 của Luật này.
– Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại các điều 47, 48, 49, 50 và 59 của Luật này.
Tiền lương trong thời kỳ hôn nhân có thể là tài sản riêng của vợ, chồng theo hai chế độ tài sản này như sau:
Thứ nhất: Với chế độ tài sản vợ, chồng theo luật định
Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau:
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.
Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
Điều 40. Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
2. Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.
Như vậy, thông thường tiền lương (thu nhập do lao động) là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, tiền lương có thể là tài sản riêng của vợ, chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung (gồm cả tiền lương), trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật Hôn nhân và gia đình; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Lưu ý:
– Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
– Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác thì phần tài sản được chia; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng.
– Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng.
Thứ nhất: Với chế độ tài sản vợ, chồng theo thỏa thuận
Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.
Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây:
– Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;
– Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
– Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;
– Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.
Do đó, trước khi kết hôn, hai bên có thể lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận, trong đó xác định tiền lương trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ, chồng. Thỏa thuận này được lập trước khi kết hôn bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực không vi phạm các điều cấm của pháp luật thì có hiệu lực từ ngày đăng ký kết hôn.
Tóm lại, tiền lương trong thời kỳ hôn nhân có thể là tài sản riêng của vợ, chồng nếu có sự thỏa thuận trước khi kết hôn hoặc có sự phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.
Quyền về tài sản riêng của vợ, chồng theo pháp luật
Theo Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình thì:
– Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
– Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.
– Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:
+ Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
+ Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình;
+ Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
+ Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.
– Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.
Trên đây là những chia sẻ của chúng tôi giúp giải đáp Tiền lương có được coi là tài sản riêng không? Quý độc giả có những băn khoăn, vướng mắc, có thể liên hệ Luật Hoàng Phi qua Tổng đài 1900 6557 để được tư vấn, hỗ trợ.
BÀI VIẾT MỚI NHẤT
Trách nhiệm của con đối với cha mẹ được pháp luật quy định như thế nào?
Hiện nay, quyền và nghĩa vụ của con được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi sẽ chia sẻ một số nội dung theo Luật Hôn nhân và gia...
Trình tự giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài
Tôi là công dân Việt Nam muốn kết hôn với người Thụy Điển tại Việt Nam, chúng tôi đã nộp hồ sơ tại UBND huyện nơi tôi cư trú đến nay đã được gần 2 tháng nhưng không được giải quyết. Vậy xin hỏi, trình tự thủ tục giải quyết việc kết hôn với người nước ngoài như thế...
Thực tế khi sống cũng có rất nhiều dấu hiệu khác nhau tuỳ thuộc vào tình cảnh mỗi người mà bạn nên cân nhắc về vấn đề ly hôn để tránh va chạm hay cố sống vô...
Bán tài sản chung sau ly hôn như thế nào?
Chồng tôi đồng ý để lại tài sản chung cho các con say ly hôn, trong đó có mảnh đất đang mang tên tôi. Sau 2 năm chồng tôi quay lại đòi bán đất và chia tài sản, tôi phải giải quyết vấn đề này thế...
Đã chia tài sản chung có được hưởng thừa kế không?
Kính gửi Luật Hoàng Phi, do có mâu thuẫn chuyện vợ chồng nên em và chồng đã thực hiện chia tài sản chung của vợ chồng nhưng chúng em chưa ly hôn. Đột nhiên chồng em ốm nặng rồi qua đời mà không để lại di chúc. Như vậy thì em có được hưởng di sản của chồng em nữa...
Xem thêm