Luật Hoàng Phi Tìm hiểu pháp Luật Tư vấn Luật Hình sự Phân tích Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
  • Thứ sáu, 08/09/2023 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 1035 Lượt xem

Phân tích Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Trong nội dung bài viết sau đây chúng tôi sẽ tư vấn và phân tích Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mời Quý vị độc giả cùng theo dõi.

Điều 51 Bộ luật hình sự quy định về vấn đề gì? Trong nội dung bài viết sau sẽ Phân tích Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quý độc giả hiểu được rõ hơn.

Nội dung Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sư 2015 được sửa đổi bởi Bộ luật hình sự 2017 quy định như sau:

Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

Phân tích nội dung Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chủ yếu mới được liệt kê mà không được mô tả cụ thể. Việc xác định nội dung của một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể dựa vào nội dung quy định của một số điều luật trong phần thứ nhất của BLHS như tình tiết phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết và phạm tội trong tường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội… Các tình tiết này được giải thích qua các quy định về phòng vệ chính đán (Điều 22 BLHS), về tình thế cấp thiết (Điều 23), về gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24)… Đối với các tình tiết khác, nếu không có hướng dẫn cụ thể thì Tòa án phải tự xác định nội dung khi áp dụng.

Dựa vào quy định của BLHS và thực tiễn áp dụng luật hình sự, có thể khái quát nội dung cũng như ý nghĩa của từng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được liệt kê tại khoản 1 của điều luật như sau:

a. Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm

Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện tội phạm và nếu không có gì ngăn cản thì tac hại của tội phạm sẽ xảy ra hoặc xảy ra lớn hơn những người phạm tội đã ngăn chặn không để cho tác hại xảy ra hoặc đã hạn chế được tài hại của tội phạm. Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do có tình tiết này không chỉ phụ thuộc vào thái độ chủ quan của người phạm tội đối với hành vi ngăn chặn hoặc giảm bớt tác hại (như có tự nguyện, tích cực hay không…) mà còn phụ thuộc vào thực tế tác hại được ngăn chặn hoặc hạn chế như thế nào.

b. Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả

Đây là trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quả thiệt hại và đã tự nguyện (không phải vì bị ép buộc) thực hiện các hành vi khắc phục hậu quả của tội phạm là sửa chữa tài sản bị hư hỏng, bồi thường về vật chất thiệt hại về tài sản, tinh thần hoặc có những hành vi khác khắc phục hậu quả của tội phạm.

Các hành vi trên đây cũng đồng thời phản ánh thái độ ăn năn hối lỗi của người phạm tội đối với hành vi phạm tội của mình. Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp này phụ thuộc vào sự cố gắng của người phạm tội cũng như vào mức độ hậu quả được khắc phục trên thực tế.

c. Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Đây là trường hợp phạm tội có động cơ là phòng vệ. Hành vi phạm tội xảy ra là do người phòng vệ đã vượt quá giới hạn luật cho phép.

d. Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

Đây là trường hợp phạm tội có động cơ hành động trong tình thế cấp thiết – gây thiệt hại để tránh thiệt hại khác lớn hơn đang đe dọa. Hành vi phạm tội xảy ra là do người được hành động trong tình thế cấp thiết đã gây ra thiệt hại rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết mà luật cho phép.

đ. Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định trong BLHS năm 2015. Người phạm tội trong trường hợp này có động cơ bắt giữ người phạm tội nhưng khi thực hiện việc này họ đã dùng vũ lực, gây thiệt hại cho người bị bắt giữ vượt quá mức cần thiết.

e. Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra

Đây là trường hợp người phạm tội thực hiện tội phạm trong tình trạng bị hạn chế về khả năng kiểm soát và khả năng điều khiển hành vi do tác động của hành vi trái pháp luật của nạn nhân. Mức độ giảm nhẹ trong từng trường hợp cụ thể tùy thuộc trước hết vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tác động…

g. Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra

Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện tội phạm do bị chi phối bởi hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do khách quan đưa lại. Trong đóm hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được hiểu là hoàn cành khó khăn hơn nhiều so với mức bình thường, có thể do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn hoặc do nguyên nhân khác quan khác. Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vào mức độ khó khăn và mức độ cố gắng tìm cách khắc phục hậu quả của người phạm tội.

h. Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn

Trưởng hợp phạm tội có tình tiết này giống trường hợp phạm tội có tình tiết ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm ở chỗ thiệt hại của tội phạm không xảy ra hoặc xảy ra không lớn nhưng khác nhau ở nguyên nhân dẫn đến việc không xảy ra thiệt hại hoặc thiệt hại xảy ra không lớn. Trường hợp chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn có nguyên nhân là nguyên nhân khách quan nằm ngoài ý muốn của người phạm tội; còn trong trường hợp ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm, người phạm tội đã có hành động tích cực để có được kết quả đó. Do hậu quả của tội phạm cũng là yếu tố quyết định mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên luật hình sự coi trường hợp chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại gây ra không lớn là trường hợp được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

i. Phạm tội lần đầu và thuộc tường hợp ít nghiêm trọng.

Đây là trường hợp lần đầu tiên phạm tội và tội phạm đã được thực hiện phải là loại tội phạm ít nghiêm trọng hoặc là tội phạm nghiêm trọng nhưng phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp này phụ thuộc nhiều vào mức độ ít nghiêm trọng của hành vi phạm tội.

k. Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức

Đây là trường hợp phạm tội do bị chi phối bởi ý chí của người khác thông qua hành vi đe dọa hoặc cưỡng bức. Do bị đe dọa hoặc cưỡng bức nên người phạm tội không hoàn toàn tự do lựa chọn, điều khiển hành vi của mình mà bị buộc phải thực hiện tội phạm theo ý chí của người có hành vi đe dọa hoặc cưỡng bức. Đe dọa trong trường hợp này được hiểu là đe dọa sẽ gây thiệt hại như dọa sẽ gây thương tích, dọa sẽ hủy hoại tài sản… nếu người bị đe dọa không thực hiện tội phạm theo ý muốn của mình. Cưỡng bức là hành vi dùng vũ lực uy hiếp tinh thần người khác để buộc họ phải thực hiện tội phạm theo ý muốn của mình như đánh đập hoặc giam giữ người bị cưỡng bức… Mức độ giảm nhự trách nhiệm hình sự trong trường hợp này tùy thuộc nhiều vào mức độ bị đe dọa hoặc cưỡng bức.

l. Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra

Đây là tình tiết mới được quy định trong BLHS năm 2015. Người phạm tội trong trường hợp này đã thực hiện tội phạm trong tình trạng bị hạn chế khả năng nhận thức hành vi và tình trạng này không phải do lỗi của chủ thể do bị lừa dối nên đã sử dụng nhầm chất kích thích mạnh. Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào mức độ hạn chế khả năng nhận thức hành vi của người phạm tội.

m. Phạm tội do lạc hậu

Đây là trường hợp phạm tội trong đó người phạm tội do trình độ nhận thức lạc hậu nên có sự nhận thức hạn chế tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và do vậy đã thực hiện tội phạm. Khi cân nhắc mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp này cần căn cứ vào mức độ lạc hậu của người phạm tội trong điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương – nơi người phạm tội sinh sống.

n. Người phạm tội là phụ nữ có thai

Đây là trường hợp người phụ nữ phạm tội trong thời gian đang mang thai. Tình tiết này được quy định chủ yếu là xuất phát từ chính sách nhân đạo nhưng cũng có phần là do tình trạng sức khỏe và tình trạng tâm – sinh lý của người phụ nữ có thể bị ảnh hưởng khi mang thai.

o. Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên

Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định thay cho tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được quy định trong BLHS năm 1999: “Người phạm tội là người già”. Việc quy định tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ xuất phát chủ yếu từ nguyên tắc nhân đạo và có tính đến đặc điểm tâm – sinh lý ở lứa tuổi này.

p. Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng

Đây cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định trong BLHS năm 2015. Việc quy định tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chủ yếu xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo đối với người khuyết tật nặng hoặc người khuyết tật đặc biệt nặng.

q. Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

Đây là trường hợp phạm tội mà chủ thể đã phạm tội khi đang trong tình trạng bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi do bị mắc bệnh. Trong trường hợp này, lỗi của người phạm tội là lỗi hạn chê nên họ được coi là có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào mức độ hạn chế khả năng nhận thức hoặc mức độ hạn chế khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội.

r. Người phạm tội tự thú

Đây là trường hợp tuy chưa bị phát hiện là người phạm tội nhưng chủ thể đã tự đến cơ quan có thẩm quyền trình diện và khai báo về hành vi phạm tội của mình.

s. Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải

Đây là trường hợp người phạm tội đã khai rõ và đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện, có biểu hiện thể hiện rõ sự day dứt, hối hận về việc thực hiện tội phạm và mong muốn sửa chữa lỗi lầm thông qua việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tích cực lao động…

t. Người  phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án

Đây là trường hợp người phạm tội đã tích cực cung cấp các bằng chứng, tài liệu, tin tức cho cơ quan có trách nhiệm hoặc làm mọi việc theo yêu cầu của cơ quan đó để phát hiện hoặc xử lý tội phạm mà họ tham gia thực hiện hoặc về tội phạm khác hoặc người phạm tội khác có liên quan mà họ biết. Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do có tình tiết này phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả của hành vi tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện hoặc trong quá trình giải quyết vụ án.

u. Người phạm tội đã lập công chuộc tội

Đây là trường hợp người phạm tội đã có thành tích đột xuất, tương đối đặc biệt như thành tích trong cứu hỏa, chống bão, lụt hoặc trong việc cứu người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng… Việc lập công này đã thể hiện phần nào sự hối hận cũng như quyết tâm cải tạo của người phạm tội.

v. Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu,học tập hoặc công tác.

Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được hướng dẫn áp dụng cho csc trường hợp người phạm tội được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng lao động sáng tạo, bằng khen của Chính phủ hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận là chiến sĩ thi đua…

x. Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chống, con của liệt sĩ

Đây cũng là tình tiết mới được quy định trong BLHS năm 2015, nhưng đã được thừa nhận trong thực tiễn xét xử từ nhiều năm. Việc quy định tình tiết này chủ yếu xuất phát từ chính sách của Nhà nước đối với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng trong cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.

Mong rằng qua nội dung bài viết trên của Công ty Luật Hoàng Phi về Phân tích Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đã cung cấp đến quý độc giả những thông tin hữu ích.

Đánh giá bài viết:
5/5 - (7 bình chọn)

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Dùng dao đâm chết người đi tù bao nhiêu năm?

Trong trường hợp cụ thể, người dùng dao đâm chết người có thể bị truy cứu về một trong các tội khác như: Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ, Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, Tội vô...

Vay tiền mà không trả phạm tội gì?

Trong nội dung bài viết này, chúng tôi sẽ có những chia sẻ giúp Quý vị làm rõ: Vay tiền mà không trả phạm tội gì? Mời Quý vị tham...

Đã có đơn bãi nại thì người gây nạn giao thông có phải đi tù không?

Đơn bãi là là yêu cầu rút lại yêu cầu khởi tố của người bị hại, Vậy Đã có đơn bãi nại thì người gây nạn giao thông có phải đi tù...

Đi khỏi nơi cư trú khi bị cấm đi khỏi nơi cư trú bị xử lý như thế nào?

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt...

Người làm chứng khai sai sự thật bị xử lý như thế nào?

Trong trường hợp người làm chứng khai báo gian dối, khai báo sai sự thật hoặc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 382 Bộ luật Hình sự...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi