Luật Hoàng Phi Tìm hiểu pháp Luật Chứng khoán Thành lập công ty đầu tư chứng khoán

Thành lập công ty đầu tư chứng khoán

Thành lập công ty đầu tư chứng khoán như thế nào? Khi có thắc mắc này, Quý độc giả đừng bỏ qua những chia sẻ trong bài viết.

Theo pháp luật hiện hành, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng và công ti đầu tư chứng khoán phát hành riêng lẻ được thành lập theo những thủ tục khác nhau. 

Thành lập công ty đầu tư chứng khoán đại chúng 

Trước khi làm thủ tục xin cấp phép thành lập công ti đầu tư chứng khoán, cổ đông sáng lập công ti hoặc công ty quản lý quỹ phải đăng kí chào bán cổ phiếu ra công chúng. Tương tự như hồ Sơ đăng kí phát hành cổ phiếu ra công chúng của các chủ thể khác, hồ sơ phát hành cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán đại chúng cũng phải có:

1) Giấy đăng kí chào bán cổ phiếu ra công chúng;

2) Dự thảo điều lệ công ty đầu tư chứng khoán (thay vì điều lệ của tổ chức phát hành đối với các chủ thể phát hành cổ 

phiếu khác);

3) Bản cáo bạch.

Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của công ty đầu tư chứng khoán so với các chủ thể phát hành cổ phiếu khác, pháp luật còn yêu cầu chủ thể đăng kí chào bán cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán cung cấp thêm một số văn bản khác trong hồ sơ đăng kí chào bán cổ phiếu như:

1) Dự thảo hợp đồng giám sát;

2) Dự thảo hợp đồng quản lý đầu tư (nếu thuê công ti quản lý quỹ đảm nhiệm việc quản lí vốn đầu tư);

3) Danh sách dự kiến giám đốc hoặc tổng giám đốc;

4) Thuyết minh cơ sở vật chất kĩ thuật cho hoạt động đầu tư;

5) Danh sách cổ đông sáng lập;

và 6) Cam kết của các cổ đông sáng lập đăng kí mua tối thiểu 20% cổ phiếu đăng kí chào bán và nắm giữ số cổ phiếu này trong 3 năm kể từ khi được cấp giấy phép thành lập và hoạt động.

Nếu hồ sơ đăng kí chào bán cổ phiếu ra công chúng của công ti đầu tư chứng khoán được UBCKNN chấp thuận, việc chào bán cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán được tiến hành tương tự như đối với trường hợp chào bán cổ phiếu của các chủ thể khác. 

Sau khi kết thúc việc chào bán cổ phiếu ra công chúng, cổ đồng sáng lập hoặc công ty quản lý quỹ phải báo cáo UBCKNN về kết quả đợt phát hành và phải hoàn chỉnh hồ sơ xin cấp phép thành lập công ty đầu tư chứng khoán và gửi tới UBCKNN. UBCKNN sẽ cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ti đầu tư chứng khoán trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ. Tuy nhiên, Uỷ ban chứng khoán cũng có quyền từ chối cấp phép nếu có lí do chính đáng. 

Thành lập công ty đầu tư chứng khoán phát hành riêng lẻ 

Khác với công ti đầu tư chứng khoán đại chúng, công ti đầu tư chứng khoán phát hành riêng lẻ không phải làm thủ tục đăng kí phát hành cổ phiếu với UBCKNN. Tuy nhiên, các cổ đông sáng lập vẫn phải góp đủ vốn vào công ti đầu tư chứng khoán trước khi cổ đông sáng lập hoặc công ty quản lý quỹ gửi hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động đối với công ti đầu tư chứng khoán phát hành riêng lẻ.

Hồ sơ phải có giấy đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động của cổ đông sáng lập; xác nhận của ngân hàng về mức vốn góp gửi tại tài khoản phong toả mở tại ngân hàng; biên bản góp vốn của các cổ đông sáng lập; dự thảo hợp đồng giám sát; danh sách cổ đông sáng lập và cam kết của họ về mức cổ phần nắm giữ và thời gian nắm giữ cổ phần; và một số giấy tờ khác.

Nếu cổ đông sáng lập tham gia góp vốn là pháp nhân nước ngoài, hồ sơ còn phải có thêm bằng chứng cổ đông đó là pháp nhân ở nước nguyên xứ và bằng chứng về sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền về việc cho phép pháp nhân đó góp vốn thành lập công ty đầu tư chứng khoán tại Việt Nam. – Thời hạn cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ti đầu tư chứng khoán phát hành riêng lẻ cũng là 30 ngày. UBCKNN có quyền từ chối cấp phép nếu có lí do chính đáng.

Việc quản trị quỹ đầu tư chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán dường như được xử lí khác nhau ở các nước khác nhau. Ở Mỹ, việc quản trị quỹ đầu tư tập thể, nếu được tổ chức dưới hình thức quỹ tín thác (business trusts) sẽ do hội đồng tín thác (board of trustees) đảm nhiệm; còn nếu được tổ chức dưới hình thức công ty sẽ do ban giám đốc (board of directors) đảm nhiệm.

Tuy nhiên, người đầu tư vào quỹ tín thác hay công ty đầu tư ở Mỹ đều được gọi là cổ động và có quyền bỏ phiếu trong đại hội cổ đông về những vấn đề hệ trọng của quỹ tín thác hay công ty đầu tư mà mình đã góp vốn. Một số vấn đề cần được biểu quyết có thể kể đến gồm: thông qua hợp đồng tư vấn đầu tư, bầu thêm thành viên ban giám đốc, bán cổ phiếu thấp hơn giá trị thực tế, vay vốn cho công ti hay cho vay từ vốn của công ti, mua hay bán bất động sản, thay đổi chính sách đầu tư hoặc thay đổi chính sách tập trung đầu tư vào một ngành công nghiệp đặc thù nào đó…

Ngược lại, ở Nhật, quỹ tín thác đầu tư không thành lập ban quản trị hay ban giám đốc mà việc quản lý tài sản quỹ sẽ do công ti tín thác (trustor company) thay mặt nhà đầu tư hay người thụ hưởng đảm nhiệm. Công ty tín thác phải được Bộ tài chính cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát của Bộ tài chính trong quá trình quản lý quỹ. Luật pháp của Nhật cũng không trao quyền bỏ phiếu cho nhà đầu tư bỏ vốn vào quỹ (hay người hưởng lợi từ quỹ). Toàn bộ những thay đổi về điều khoản, điều kiện trong điều lệ của quỹ tín thác đầu tư sẽ do Bộ tài chính phê chuẩn.) 

Ở Việt Nam hiện nay, công ty quản lí quỹ đứng ra quản lí toàn bộ hoạt động đầu tư của quỹ đầu tư chứng khoán và của những công ti đầu tư chứng khoán có nhu cầu; trong quá trình hoạt động, công ti quản lý quỹ phải chịu sự giám sát của ngân hàng giám sát. Tuy nhiên đối với quỹ đầu tư chứng khoán, Luật chứng khoán lại cho phép quỹ đầu tư chứng khoán triệu tập đại hội nhà đầu tư với tư cách là cơ quan quyết định cao nhất của quỹ đầu tư chứng khoán.

Quy định này cho thấy mô hình quản trị quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam không giống với mô hình của Mỹ mà cũng không giống mô hình của Nhật. Tuy nhiên, nếu gạt bỏ tên gọi khác nhau của nhà đầu tư vào quỹ đầu tư chứng khoán và của chủ thể quản lý quỹ ở Mỹ và Việt Nam, có thể thấy mô hình quản trị quỹ đầu tư chứng khoán của Việt Nam có những nét tương đồng với mô hình của Mỹ do sự hiện diện của đại hội người đầu tư (đại hội cổ đông ở Mỹ) và của công ty quản lý quỹ (hội đồng tín thác ở Mỹ) trong bộ máy quản trị quỹ đầu tư chứng khoán. 

Còn riêng đối với công ti đầu tư chứng khoán, pháp luật Việt Nam chỉ mới quy định chung chung về hội đồng quản trị và đại hội đồng cổ đông. Như vậy, hội đồng quản trị và đại hội cổ đông là những cơ quan quản lý công ty đầu tư chứng khoán bên cạnh ngân hàng giám sát chịu trách nhiệm bảo quản tiền và tài sản của công ty. Ngoài ra, nếu có nhu cầu, công ty đầu tư chứng khoán còn có thể thuê công ty quản lý quỹ quản lý đầu tư. Khi đó công ty quản lý quỹ cũng trở thành một bộ phận của bộ máy quản lí công ty đầu tư chứng khoán. 

Đại hội nhà đầu tư, cơ quan quyết định cao nhất của quỹ đầu tư chứng khoán 

Nếu như các công ty cổ phần có đại hội cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ti thì quỹ đầu tư chứng khoán có đại hội nhà đầu tư chứng khoán với thành phần gồm tất cả các nhà đầu tư, là cơ quan quyết định cao nhất của quỹ đầu tư chứng khoán. Đại hội nhà đầu tư có một số quyền năng theo quy định pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của nhà đầu tư và tăng cường hiệu quả hoạt động đầu tư của quỹ. 

Để bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư được quan tâm đúng mức, một mặt, đại hội nhà đầu tư được phép lập ra cơ quan đại diện cho quyền lợi của mình bằng cách thực hiện quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch và thành viên ban đại diện quỹ đầu tư chứng khoán; mặt khác, đại hội nhà đầu tư có quyền yêu cầu công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát trình sổ sách hoặc giấy tờ giao dịch tại đại hội nhà đầu tư. Pháp luật còn trao cho đại hội nhà đầu tư quyết định một số vấn đề có liên quan tới khía cạnh tài chính của quỹ đầu tư chứng khoán để đảm bảo các chi phí cho hoạt động quản lý quỹ phản ánh đúng giá trị sức lao động của các chủ thể thực hiện các hoạt động đó và từ đó hạn chế khả năng thu nhập thực tế từ hoạt động đầu tư của quỹ bị giảm sút do những chi phí thái quá cho các chủ thể tham gia quản lý và giám sát hoạt động của quỹ.

Ví dụ, đại hội nhà đầu tư có quyền quyết định mức thù lao và chi phí hoạt động của bạn đại diện quỹ; mức phí trả cho công ti quản lý quỹ và ngân hàng giám sát, thông qua các báo cáo về tình hình tài chính, tài sản và hoạt động hàng năm của quỹ; thông qua việc lựa chọn tổ chức kiểm toán được chấp thuận để kiểm toán báo cáo tài chính năm của quỹ đầu tư chứng khoán.

Pháp luật còn trao cho đại hội nhà đầu tư một số quyền năng để đảm bảo rằng các bên tham gia quản lý và giám sát quỹ đầu tư chứng khoán tuân thủ các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng hoặc phát sinh ngoài hợp đồng.

Một là đại hội nhà đầu tư có quyền xem xét và xử lý vi phạm đối với công ti quản lí quỹ, ngân hàng giám sát và ban đại diện quỹ nếu những tổ chức này gây tổn thất cho quỹ đầu tư chứng khoán.

Hai là đại hội nhà đầu tư còn có quyền quyết định thay đổi công ti quản lý quỹ, ngân hàng giám sát phù hợp với quy định của điều lệ của quỹ nếu thấy cần thiết. 

Ngoài ra, nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của quỹ, đại hội nhà đầu tư còn có quyền quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán, hợp đồng giám sát; quyết định việc niêm yết chứng chỉ quỹ đóng; quyết định thay đổi cơ bản trong chính sách đầu tư, phương án phân phối lợi nhuận, mục tiêu đầu tư của quỹ và cả việc giải thể quỹ đầu tư chứng khoán. 

Đại hội nhà đầu tư được tổ chức dưới ba hình thức:

1) Đại hội nhà đầu tư lần đầu tiên: chỉ được triệu tập một lần khi quỹ mới thành lập. Công ti quản lý quỹ đứng ra triệu tập đại hội trong vòng 25 ngày sau khi hoàn tất đợt phát hành chứng chỉ quỹ;

2) Đại hội nhà đầu tư thường niên, do ban đại diện quỹ triệu tập sau khi kết thúc năm tài chính; và

3) Đại hội nhà đầu tư bất thường được triệu tập bởi: Công ty quản lý quỹ, ban đại diện quỹ, ngân hàng giám sát hoặc nhóm nhà đầu tư đại diện cho ít nhất 10% vốn điều lệ tối thiểu trong vòng sáu tháng liên tục. Đại hội nhà đầu tư bất thường chỉ được triệu tập trong những tình huống pháp luật quy định hoặc do điều lệ quỹ quy định. 

Đại hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị của công ti đầu tư chứng khoán

Với tư cách công ty cổ phần, theo Luật doanh nghiệp, công ty đầu tư chứng khoán cũng có cơ quan quyết định cao nhất là đại hội cổ đông. Quyền và nghĩa vụ của cổ đông cũng như trình tự, thủ tục triệu tập đại hội cổ đông và phương thức biểu quyết để thông qua các vấn đề cần bàn bạc trong phiên họp được thực hiện tương tự như đối với các công ty cổ phần khác hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Việc bầu ra hội đồng quản trị và trách nhiệm cũng như quyền hạn của hội đồng quản trị cũng tiến hành theo quy định của Luật doanh nghiệp. 

Đánh giá bài viết:
5/5 - (5 bình chọn)

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Thủ tục Thành lập công ty quản lý quỹ

Thành lập công ty quản lý quỹ là những thủ tục pháp lí do pháp luật quy định để hình thành công ti quản lý quỹ. Theo quy định của pháp luật, tổ chức, cá nhân muốn thành lập công ty quản lí quỹ đầu tư chứng khoán phải được UBCKNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động....

Đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép thành lập, hoạt động kinh doanh chứng khoán

Đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép thành lập, hoạt động kinh doanh chứng khoán như thế nào? Cùng tìm hiểu qua bài viết này...

Cơ chế giải quyết tranh chấp về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Cơ chế giải quyết tranh chấp về chứng khoán và thị trường chứng khoán như thế nào? Bài viết sẽ có những chia sẻ giúp Quý độc giả làm...

Khái niệm, đặc điểm tranh chấp, giải quyết tranh chấp về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Trong nội dung bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ về : Khái niệm, đặc điểm tranh chấp, giải quyết tranh chấp về chứng khoán và thị trường chứng...

Nội dung pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ về Nội dung pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi