Luật Hoàng Phi Tìm hiểu pháp Luật Hình sự Tội phạm là gì? Cấu thành tội phạm? Phân loại tội phạm?

Tội phạm là gì? Cấu thành tội phạm? Phân loại tội phạm?

Tội phạm là gì? Tội phạm có thể phân biệt với những hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực khác như hành chính như thế nào? Bài viết sau đây của Luật Hoàng Phi sẽ phần nào làm sáng tỏ những thắc mắc trên của Quý độc giả.

Tội phạm là gì?

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.”

Phân loại tội phạm?

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

– Tội phạm ít nghiêm trọng

Tội phạm ít nghiêm trọng được hiểu là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 3 năm;

– Tội phạm nghiêm trọng

Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 3 năm tù đến 7 năm tù;

– Tội phạm rất nghiêm trọng

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 7 năm tù đến 15 năm tù;

– Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Cấu thành của tội phạm?

Cấu thành tội phạm bao gồm:

– Khách thể của tội phạm:

Là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ ,bị tội phạm xâm hại,gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại

– Mặt khách quan của tôi phạm:

Là những biểu hiện của bên ngoài tội phạm.Mặt khách quan bao gồm các dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội ,hậu quả tác hại do tội phạm gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả do hành vi đó gây ra ; thời gian, địa điểm; công cụ phương tiện thực hiện tội phạm. v.v

– Mặt chủ quan của tội phạm:

Là những biểu hiện bên trong của tội phạm,là thái độ tâm lý của người phạm tội.Mặt chủ quan của tội phạm gồm các dấu hiệu lỗi,động cơ, mục đích cuả tội phạm.

Chủ thể của tội phạm:

Là con người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội ,mà theo quy định của Luật Hình sự họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó.Chủ thể của tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật Hình sự

Các dấu hiệu của tội phạm?

Để xác định một hành vi có phải là tội phạm hay không thì cần phải xét xem hành vi đó có đủ các dấu hiệu để cấu thành tội phạm hay không. Thực tế việc xác định các dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm đối với từng tội phạm thường khá khó để xác định, dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm đáng tiếc.

Các dấu hiệu của tội phạm cụ thể như sau:

Thứ nhất: Tính nguy hiểm cho xã hội

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là dấu hiệu đầu tiên để xác định được hành vi đó có phải là tội phạm hay không. Tính nguy hiểm cho xã hội thể hiện ở việc gây thiệt hại hoặc tạo ra nguy cơ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Trong đó các quan hệ xã hội là đối tượng bảo vệ của luật hình sự. Tính nguy hiểm cho xã hội là một thuộc tính quan trọng và cơ bản nhất, có ý nghĩa quyết định các dấu hiệu và được thể hiện thông qua hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Theo quy định tại điều 123 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổ bổ sung năm 2017 về tội giết người là hành vi nguy hiểm xâm hại trực tiếp đến tính mạng con người. Người bị giết là người còn sống, vì tội giết người là tội xâm phạm đến tính mạng con người, gây nguy hiểm cho xã hội.

Thứ hai: Tính có lỗi

Lỗi là thái độ tâm lý chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra. Lỗi thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý, là một dấu hiệu rất quan trọng trong cấu thành tội phạm. Mục đích của áp dụng hình phạt là trừng phạt người có lỗi chứ không phải trừng phạt hành vi. Trong bộ luật hình sự Việt Nam thì nguyên tắc có lỗi được coi là nguyên tắc cơ bản. Người chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không phải chỉ đơn thuần vì người này có hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội mà còn vì đã có lỗi trong thực hiện hành vi khách quan đó. Có thể chia hành vi phạm tội thành lỗi cố ý và lỗi vô ý.

Ví dụ: Điều 123 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội giết người thì có thể thấy tội phạm cố ý giết người. Tội phạm thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng người khác, người phạm tội nhận thức rõ hành động của mình tất yếu hoặc có thể gây cho nạn nhân chết và mong muốn hoặc bỏ mặc cho nạn nhân chết. Biểu hiện ý thức này ra bên ngoài thường được biểu hiện bằng những hành vi như: chuẩn bị hung khí (phương tiện), điều tra theo dõi mọi hoạt động của người định giết, chuẩn bị những điều kiện, thủ đoạn để che giấu tội phạm,…

Thứ ba: Tính trái pháp luật

Căn cứ theo điều 2 Bộ luật hình sự 2017 quy định về trách nhiệm hình sự như sau:

“ Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Như vậy bất cứ hành vi nào không được quy định là một tội trong bộ luật Hình sự thì việc thực hiện hành vi đó đều không phải là tội phạm.

Ví dụ: Dù pháp luật quy định rất rõ ràng và cấm chủ thể, pháp nhân thực hiên các hành vi vi phạm pháp luật nhưng chủ thể vẫn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật của mình. Khi pháp luật đã quy đinh cấm giết người tại điều 123 Bộ Luật hình sự sửa đổi bổ sung 2017  nhưng chủ thể vẫn thực hiện hành vi giết người và trái pháp luật.

Thứ tư: Tính phải chịu hình phạt

Tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu kèm theo của dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự. Chỉ những hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, hình phạt được coi là cơ chế răn đe, giáo dục đối với tội phạm. Tùy theo từng loại tội khác nhau có yếu tố tăng nặng hay giảm nhẹ mà người phạm tội đều phải chịu hình phạt trước tội của mình gây ra,

Ví dụ theo khoản 1 điều 123 thì người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Pháp luật có quy định rất rõ ràng về mức hình phạt mà người phạm tội cần chịu khi vi phạm.

Bình luận tội phạm theo quy định Bộ luật hình sự

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thô tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến ba năm; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hai lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên ba năm tù đến 7 năm tù; Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên bảy năm tù đến mười lăm năm tù; Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên mười lăm năm tù đến hai mươi năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Những hành vi tuy có các dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Khoản 1 của Điều luật xác định khái niệm tội phạm một cách khoa học, thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước về tội phạm. Nó không những là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong việc phân các tội phạm của Bộ luật Hình sự mà còn là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn những điều luật quy định về từng tội phạm cụ thể.

Nếu như Điều 1 của Bộ luật Hình sự nêu lên những quan hệ xã hội chung quan trọng nhất được Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm thì Điều 8, khoản 1 đã cụ thể hóa những quan hệ xã hội đó thành những khách thể của tội phạm. Đó là: Độc lập, chủ quyền, thông nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Khái niệm tội phạm luôn là vấn đề trung tâm của luật Hình sự. Trong lịch sử có những quan niệm khác nhau về khái niệm tội phạm. Việc đưa ra khái niệm này cho phép phân biệt hành vi nào là tội phạm hành vi nào không phải là tội phạm. Các luật gia tư sản nhấn mạnh tính hình thức của tội phạm. Cụ thể họ cho rằng: Tội phạm là hành vi bị luật Hình sự cấm hoặc là “Vi phạm pháp luật bị Bộ luật Hình sự trừng trị”: (BLHS Pháp 1810) hoặc là “Hành vi do luật Hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt” (BLHS Thụy Sĩ năm 1937). Như vậy, yếu tô” luật Hình sự quy định, luật Hình sự cấm, luật Hình sự trừng trị là đặc điểm duy nhất của tội phạm. Điều này hết sức nguy hiểm ở chỗ nhiều khi nó cho phép nhà làm luật đưa ý chí chủ quan của mình vào việc quy định hành vi nào là tội phạm. Tuy nhiên, yếu tố luật định của tội phạm mà luật Hình sự tư sản đưa ra đã cho thấy được tiến bộ vượt bậc. So với luật Hình sự phong kiến tránh được sự tùy tiện khi coi một hành vi nào đó là tội phạm. Được quy định tội phạm luật Hình sự hay Bộ luật Hình sự chỉ là dấu hiệu hình thức của tội phạm. Tội phạm còn được xác định thông qua dấu hiệu về mặt nội dung. Đó là: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội”. Tuy nhiên đánh giá thế nào là nguy hiểm cho xã hội là vấn đề cần được làm sáng tỏ nếu không dễ rơi vào chủ quan, duy ý chí khi quy định tội phạm. Các tiêu chí để xác định tính nguy hiểm cho xã hội ởmức độ tội phạm gồm:

–  Tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại

–  Hiệu quả do hành vi phạm tội gây ra

–  Tính chất và mức độ lỗi: các hình thức lỗi, các dạng lỗi, động cơ mục đích phạm tội…

–  Các yếu tố đặc trưng cho hành vi phạm tội như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ phạm tội.

 Trong Bộ luật Hình sự Việt Nam còn có một yếu tố mà nhà làm luật xem như 1 trong những yếu tố làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó là yếu tố nhân thân người phạm tội. Ví dụ yếu tố “Đã bị xử lý hành chính”… Đây là vấn đề đang tranh luận trong khoa học luật Hình sự. Bởi lẽ việc quy định yếu tố nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội “không phù hợp với nguyên tắc chung của luật Hình sự. Đó là nguyên tắc: Một người không thể bị xử phạt hình sự về nhân thân xấu của họ”.

Tội phạm còn được thể hiện thông qua dấu hiệu: Năng lực trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đây là đặc tính quan trọng không thể bỏ qua khi quy định khái niệm tội phạm. Năng lực trách nhiệm hình sự thể hiện ở khả năng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức và điểu được hành vi của mình. Điều đó cho thấy cho dù gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nào đó nhưng nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm không nhận thức được hành vi, không điều khiển được hành vi thì hành vi đó không là hành vi tội phạm.

Tính có lỗi: Tội phạm luôn là hành vi có lỗi. Cũng có lúc, có nơ luật Hình sự coi những hành vi không có lỗi là tội phạm. Đây được gọi  là nguyên tắc “quy tội khách quan” – chỉ căn cứ vào hành vi để buộc tội trong khi tội phạm là tổng hợp các yếu tố chủ quan và khách quan. Yêu tố khách quan là các hành vi, yếu tố chủ quan là lỗi. Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi của mình và hậu quả đốì vối hành vi đó. Lỗi có một quá trình hình thành từ khi phát sinh những nhu cầu, xác định động cơ, mục đích, nhận thức các yếu tố chủ quan, khách quan của hành vi và cuối cùng là lựa chọn và quyết định thực hiện hành vi. *

Như vậy, căn cứ vào Điều 8 BLHS có thể đưa ra khái niệm tội phạm một cách khái quát: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS thực hiện, có lỗi được quy định trong BLHS.

Hiện nay, trong khoa học luật Hình sự còn có ý kiến cho rằng tội phạm còn một dấu hiệu nữa là tính phải chịu hình phạt.

Khoản 2 của Điều luật quy định: Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. Ví dụ: Trộm cắp vặt, gây thương tích nhẹ, vô ý gây thiệt hại nhỏ nhặt v.v…

Có dấu hiệu tội phạm tức là có đầy đủ 4 dấu hiệu của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự, có lỗi.

Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất khiến nó không bị coi là tội phạm là tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể.

Có phải mọi trường hợp phạm tội giết người đều là phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trong?

Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 với nội dung như sau:

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Theo quy định trên, người phạm tội giết người có thể thuộc các trường hợp với hình phạt chính từ khoản 1 đến 3 với khung hình phạt khác nhau.

Theo phân loại hình sự quy định tại Điều 9 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, có thể xác định:

Thứ nhất, phạm tội giết người theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự: mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình, tức là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (theo điểm d khoản 1 Điều 9);

Thứ hai, phạm tội giết người theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự: mức cao nhất của khung hình phạt là 15 năm tù, tức là tội phạm rất nghiêm trọng (theo điểm c khoản 1 Điều 9);

Thứ ba, phạm tội giết người theo khoản 3 Điều 123 Bộ luật hình sự: mức cao nhất của khung hình phạt là 5 năm tù, tức là tội phạm nghiêm trọng (theo điểm b khoản 1 Điều 9).

Do đó, tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội giết người thì phạm tội nghiêm trọng, hoặc rất nghiêm trọng, hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Đánh giá bài viết:
5/5 - (52 bình chọn)

Lưu ý: Nội dung tư vấn nêu trên chỉ mang tính chất tham khảo

Để được Tư vấn trực tiếp, Quý khách vui lòng Gọi: 1900.6557

——————*****——————

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557“Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

 

 

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Tố tụng hình sự là gì? Tố tụng hình sự có mấy giai đoạn?

Tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của các cơ quan nhà nuớc khác và các tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hình...

Đào ngũ là gì? Đào ngũ bị phạt như thế nào?

Trong nội dung bài viết này chúng tôi sẽ hỗ trợ tư vấn về vấn đề: Đào ngũ là gì? Đào ngũ bị phạt như thế...

Nhặt được của rơi không trả lại phạm tội gì?

Theo quy định của pháp luật thì khi nhặt được tài sản do người khác đánh rơi mà biết được địa chỉ của người đó thì cần phải thông báo hoặc là trả lại tài sản cho người đó, nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết để nhận...

Làm giấy tờ giả sẽ bị phạt như thế nào?

Giấy tờ giả là các loại giấy tờ không được cấp đúng theo trình tự, thủ tục, tiêu chuẩn đã được pháp luật quy định, giấy tờ giả không do cơ quan có thẩm quyền cấp một cách hợp pháp mà chỉ được làm ra với hình thức giống như giấy tờ thật với mục đích nhằm lừa dối các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác để phục vụ các mục đích vụ lợi hoặc phục vụ mục đích khác...

Thẻ công vụ đặc biệt là gì?

Sử dụng thẻ công vụ đặc biệt giả là một hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể là luật hình sự. Vậy thẻ công vụ đặc biệt là...

Quay lén người khác tắm phạm tội gì?

Quay lén là việc một hoặc nhiều người sử dụng một hoặc nhiều thiết bị (điện thoại, camera, máy quay,...) có chức năng ghi hình và lưu giữ lại hình ảnh để quay một hoặc nhiều người khác khi chưa có sự đồng ý của người bị...

Tù treo có mất quyền công dân không?

Để xác định tù treo có mất quyền công dân hay không thì sẽ phụ thuộc vào hành vi phạm tội mà người đó thực hiện, nếu như bị áp dụng hình phạt bổ sung là tước quyền công dân thì người phạm tội sẽ chỉ bị tước một số quyền công dân chứ không bị mất toàn bộ quyền công...

Chưa bồi thường thiệt hại có được xóa án tích?

Xóa án tích là một trong những quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 tại Điều 69. Theo đó, người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án...

Xóa án tích có được lấy chồng công an không?

Việc nam nữ kết hôn với người trong lực lượng công an nhân dân phải tuân thủ các quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và quy chế riêng của ngành Công...

Cải tạo không giam giữ có án tích không?

Cải tạo không giam giữ là một trong những hình phạt chính trong hệ thống pháp luật hình sự và được quy định tại Khoản 1 Điều 32 của Bộ luật hình sự năm...

Điều kiện xóa án tích 2022

Án tích là đặc điểm xấu về nhân thân của người bị kết án và áp dụng hình phạt được ghi và lưu lại trong lí lịch tư pháp trong thời gian luật...

Giám định tư pháp là gì?

Trong nội dung bài viết này chúng tôi sẽ hỗ trợ tư vấn, giải đáp thắc mắc về vấn đề: Giám định tư pháp là...

Biện pháp tư pháp là gì?

Trong nội dung bài viết này chúng tôi sẽ hỗ trợ tư vấn, giải đáp thắc mắc về vấn đề: Biện pháp tư pháp là...

Hội đồng xét xử gồm những ai?

Pháp luật quy định cụ thể về thành phần của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân; trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm...

Xét xử kín là gì? Khi nào xét xử kín?

Xét xử kín là không phải tất cả mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa như trường hợp xét xử công khai nhưng phải tuyên án công...

Xem thêm

Hotline: 1900.6557