Điều kiện để được áp dụng cải tạo không giam giữ là gì?
Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội, hình phạt cải tạo có thể được áp dụng cho trường hợp tội phạm được thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng.
Quy định của BLHS về cải tạo không giam giữ
Điều 100. Cải tạo không giam giữ
1. Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng.
2. Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó.
Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định.
Phân tích về cải tạo không giam giữ theo quy định hiện hành
Điều luật quy định điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính không buộc người bị áp dụng hình phạt này phải cách ly khỏi xã hội để tự cải tạo, giáo dục dưới sự theo dõi, giám sát của cha mẹ hoặc người đại diện.
So với BLHS 1999, BLHS năm 2015 quy định theo hướng mở rộng hơn phạm vi người dưới 18 tuổi phạm tội có thể được áp dụng hình phạt này.
Khoản 1 của điều luật quy định điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo hai độ tuổi:
– Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội, hình phạt này có thể được áp dụng trong 03 trường hợp:
+ Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, có thể là tội cố ý hoặc tội vô ý;
+ Tội phạm đã thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, có thể là tội cố ý hoặc tội vô ý; và
+ Tội phạm đã thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng nhưng phải là tội vô ý.
– Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội, hình phạt cải tạo có thể được áp dụng cho trường hợp tội phạm được thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng.
Theo khoản 2 Điều 12, các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đều là tội cố ý. Do vậy, tội phạm rất nghiêm trọng được nói ở đây đương nhiên được hiểu là tội phạm cố ý.
Khoản 1 của điều luật mới chỉ xác định các trường hợp có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Để được áp dụng hình phạt này, người dưới 18 tuổi phạm tội còn phải thỏa mãn điều kiện về khả năng tự giáo dục của mình cũng như điều kiện có việc làm ổn định hoặc có chỗ ở rõ ràng.
Điều kiện có việc làm hoặc có chỗ ở rõ ràng là điều kiện cần thiết để đảm bảo việc giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương có cơ sở và hiệu quả. Trên thực tế, ngoài trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương, gia đình người phạm tội có vai trò lớn trong việc giáo dục, quản lý, giám sát người bị phạt cải tạo không giam giữ.
Do đó, gia đình có nghĩa vụ cùng cơ quan, tổ chức xã hội, chính quyền địa phương giám sát, giáo dục người bị kết án. Chỉ khi sự kết hợp này được thực hiện có hiệu quả thì tác dụng giáo dục, ngăn ngừa của hình phạt mới được đảm bảo.
Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ phải thực hiện các nghĩa vụ của mình.
Họ phải chấp hành pháp luật của Nhà nước và các quy định của chính quyền địa phương, tuân thủ các quy định của cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ giám sát và giáo dục. Họ phải tham gia lao động, học tập và sửa chữa những lỗi lầm của họ trước đây.
Khoản 2 của điều luật quy định: Người dưới 18 tuổi phạm tội không bị khấu trừ thu nhập khi tham gia lao động. Trên thực tế, việc người dưới 18 tuổi tham gia lao động để tăng thêm thu nhập không nhiều, mức thu nhập cũng không cao nên việc Nhà nước không tước một phần thu nhập của họ khi tham gia lao động là nhằm động viên, tạo điều kiện để người dưới 18 tuổi tham gia lao động, rèn luyện để thấy được giá trị của lao động.
Về thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, khoản 2 của điều luật quy định thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thấp hơn so với người phạm tội đã đủ 18 tuổi.
Cụ thể, thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không được vượt quá một phần hai thời hạn mà khung hình phạt của điều luật được áp dụng đã quy định.
Ví dụ: Nếu người dưới 18 tuổi phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo khoản 1 Điều 126 BLHS và bị xử phạt cải tạo không giam giữ thì mức xử phạt chỉ có thể là 01 năm cải tạo không giam giữ mặc dù khoản này quy định có thể xử phạt đến 02 năm cải tạo không giam giữ.
BÀI VIẾT MỚI NHẤT
Khung hình phạt là khoảng thời gian phạt tù hoặc cải tạo không giam giữ mà cơ quan tiến hành tố tụng có thể căn cứ vào đó để xác định hình phạt cụ thể áp dụng đối với bị cáo tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm...
Tội trốn nghĩa vụ quân sự theo Bộ luật hình sự
Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước, việc tăng cường sức mạnh quân đội nói chung và thực hiện nghĩa vụ quân sự nói riêng là vấn đề được cả xã hội quan tâm. Vì một lý do nào đó, một số người đã không thực hiện nghĩa vụ quân sự theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, có phải trong mọi trường hợp và mọi hành vi không thực hiện nghĩa vụ quân sự đều cấu thành...
Phân tích Điều 230 Bộ luật hình sự
Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định tại Điều 230 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm...
Thời hạn điều tra là gì? Thời hạn điều tra vụ án hình sự bao lâu?
Thời hạn điều tra là khoảng thời gian tối đa do pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó Cơ quan điều tra có thẩm quyền được thực hiện các hoạt động điều tra nhằm xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác của vụ án, hoàn thành việc điều tra vụ án hình...
Số điện thoại lạ gọi đòi nợ nên làm gì?
Mặc dù pháp luật không cho phép vu khống để đòi nợ nhưng trên thực tế, hàng loạt những vụ việc liên quan đến quấy rối, đe dọa bằng hình thức nhắn tin, gọi điện vẫn thường xuyên xảy ra do đó độc giả cần tự bảo vệ mình và không nên nghe số điện...
Xem thêm