Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Tư vấn Luật Hình sự Người phạm tội được bắt buộc chữa bệnh trong trường hợp nào?
  • Thứ sáu, 19/04/2024 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 448 Lượt xem

Người phạm tội được bắt buộc chữa bệnh trong trường hợp nào?

Khoản 2 của điều 49 bộ luật quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đã phạm tội, nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vị của mình.

Pháp luật quy định về bắt buộc chữa bệnh

Điều 49. Bắt buộc chữa bệnh

1. Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại Điều 21 của Bộ luật này, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.

2. Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

3. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt, thì người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt.

Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Như vậy tại Điều 49 của Bộ luật hình sự đã giải đáp được thắc mắc Người phạm tội được bắt buộc chữa bệnh trong trường hợp nào?

Bình luận về quy định Bắt buộc chữa bệnh

Điều luật quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là biện pháp cưỡng chế hình sự được áp dụng đối với các đối tượng bị mắc bệnh nên không có năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội hoặc trước khi bị kết án hoặc đang chấp hành hình phạt. Đối với những người này, việc tuyển một hình phạt hoặc bắt họ phải chấp hành hình phạt đã tuyên đều không đạt được mục đích của hình phạt vì họ không thể tiếp thu được sự tác động giáo dục của hình phạt, sự lên án của Nhà nước và xã hội đối với hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà họ đã thực hiện.

Trong những trường hợp này, Viện kiểm sát hoặc Tòa án tùy thuộc từng giai đoạn tố tụng hình sự quyết định đưa họ vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh để quản lý cũng như điều trị bệnh; chăm sóc, phục hồi sức khỏe cho họ và cũng để ngăn ngừa họ thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội. Việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với những đối tượng mắc bệnh trên không những thực hiện được phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung mà còn thể hiện tính nhân đạo trong luật hình sự.

Điều luật quy định ba trường hợp có thể quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Khoản 1 của điều luật quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại Điều 21 BLHS. Đây là trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Do vậy, hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện không phải là tội phạm và người thực hiện hành vi đó không phải là người phạm tội.

Đối với những người này, Viện kiểm sát hoặc Tòa án (tùy vào từng giai đoạn tố tụng hình sự) có thể quyết định đưa họ vào cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Các cơ quan này chỉ có thể quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh khi có kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần khẳng định người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội là người trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 BLHS trong khi thực hiện hành vi gây thiệt hại đó.

Sau quá trình điều trị, nếu khỏi bệnh thì người này cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự vì hành vi của họ không cấu thành tội phạm.

Khoản 2 của điều luật quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đã phạm tội, nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vị của mình.

– Đây là trường hợp khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã | hội, người thực hiện hành vi đó có năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi của họ đã cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS và họ là người phạm tội nhưng trước khi bị kết án, họ mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác nên lâm vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 BLHS. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ trưng cầu giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần và trên cơ sở kết luận giám định, Tòa án quyết định bắt người mắc bệnh phải vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.

Sau khi khỏi bệnh, người này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định chung. Điều này tùy thuộc vào thời gian chữa bệnh cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà họ đã thực hiện.

Khoản 3 của điều luật quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị mắc bệnh nên lâm vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 BLHS.

Khi người bị kết án phạt tù đang chấp hành án bị nghi ngờ mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án, Tòa án có thẩm quyền tiến hành trưng cầu giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần đối với họ. Căn cứ vào kết luận giám định, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.

Sau khi khỏi bệnh người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có lý do khác để được miễn chấp hành hình phạt. Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Thời hạn điều tra vụ án hình sự là bao lâu?

Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều...

Dùng dao đâm chết người đi tù bao nhiêu năm?

Trong trường hợp cụ thể, người dùng dao đâm chết người có thể bị truy cứu về một trong các tội khác như: Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ, Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, Tội vô...

Vay tiền mà không trả phạm tội gì?

Trong nội dung bài viết này, chúng tôi sẽ có những chia sẻ giúp Quý vị làm rõ: Vay tiền mà không trả phạm tội gì? Mời Quý vị tham...

Đã có đơn bãi nại thì người gây nạn giao thông có phải đi tù không?

Đơn bãi là là yêu cầu rút lại yêu cầu khởi tố của người bị hại, Vậy Đã có đơn bãi nại thì người gây nạn giao thông có phải đi tù...

Đi khỏi nơi cư trú khi bị cấm đi khỏi nơi cư trú bị xử lý như thế nào?

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi