Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Tư vấn Doanh nghiệp - Đầu tư Nhóm công ty là gì? Phân loại nhóm công ty?
  • Thứ tư, 25/05/2022 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 1627 Lượt xem

Nhóm công ty là gì? Phân loại nhóm công ty?

Nhóm công ty là gì? Phân loại nhóm công ty như thế nào? Quý vị hãy cùng chúng tôi tìm hiểu ở bài viết sau đây.

Khái niệm nhóm công ty 

Quy luật vận động phát triển của nền kinh tế hàng hóa, quy Luật Cạnh tranh buộc nhà kinh doanh phải triển khai những mô hình liên kết phù hợp nhằm tích tụ vốn, tăng khả năng cạnh tranh, phân tán rủi ro, quản lý và kinh doanh hiệu quả. Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế hàng hóa, liên kết góp vốn thành lập công ty kinh doanh trở thành xu hướng chủ đạo. Tuy nhiên, quy luật vận động của nền kinh tế ngày càng phức tạp, đòi hỏi nhà kinh doanh phải xây dựng những mô hình liên kết kiểu mới để hình thành một tổ chức kinh doanh quy mô lớn hơn, hiệu quả hơn, sức cạnh tranh cao hơn 

Nhóm công ty là một tập hợp hai hay nhiều công ty, tương tác và có mối quan hệ lâu dài về kinh tế, công nghệ, thị trường, loại trừ sự cạnh tranh lẫn nhau, cùng nhau hướng tới mục tiêu tăng cường tích tụ, tập trung vốn và tối đa hóa lợi nhuận” 

Đặc điểm của nhóm công ty 

Nhóm công ty mang các đặc điểm như sau:

Thứ nhất: Nhóm công ty được hình thành từ liên kết giữa các chủ thể kinh doanh độc lập tạo thành một tổ hợp

Nhóm công ty được hình thành trên cơ sở liên kết giữa các chủ thể kinh doanh. Chủ thể kinh doanh trong nhóm công ty là những pháp nhân kinh doanh độc lập. Liên kết giữa các chủ thể kinh doanh trong nhóm công ty được quy định tại các hợp đồng liên kết. 

Liên kết giữa các thành viên trong nhóm công ty hoàn toàn khác với liên kết giữa các thành viên trong công ty. Liên kết giữa các thành viên trong công ty là liên kết hình thành từ quan hệ đầu tư góp vốn để trở thành đồng sở hữu chung của công ty, giữa các thành viên có mối quan hệ chặt chẽ, hoàn toàn độc lập về tư cách pháp lý, quản lý và điều hành.

Tính trách nhiệm của các thành viên trong công ty được cái biệt hóa, các thành viên được tham gia quản lý, điều hành công ty ở mức độ tương ứng với tỷ lệ vốn góp vào công ty. Liên kết giữa các thành viên trong nhóm công ty được hình thành trên cơ sở đầu tư vốn trực tiếp từ thành viên này vào thành viên khác hoặc việc cùng sở hữu, sử dụng chung các đối tượng sở hữu công nghiệp hay nằm trong một chuỗi kinh doanh. Các thành viên trong nhóm công ty độc lập về mặt pháp lý, tự chịu trách nhiệm với hoạt động kinh doanh của mình, tuy nhiên các thành viên có thể chi phối lẫn nhau trong hoạt động kinh doanh.

Các thành viên trong nhóm công ty không chịu trách nhiệm cho hoạt động kinh doanh chung của nhóm và cũng không chịu trách nhiệm trong trường hợp một thành viên khác của nhóm công ty làm ăn thua lỗ phá sản. Thành viên trong nhóm công ty ràng buộc trách nhiệm trực tiếp với nhau thông qua hợp đồng liên kết. Mối liên kết giữa các thành viên trong nhóm công ty có thể có liên kết chi phối hoặc những liên kết không mang tính chi phối. 

– Liên kết chi phối 

Nhóm công ty có liên kết chặt chẽ, chi phối là tập hợp của công ty chi phối và các công ty bị chi phối. Công ty chi phối (hay còn gọi là công ty mẹ) trong nhóm công ty thường tồn tại ở mô hình cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, giữ quyền chi phối điều hành các hoạt động của công ty bị chi phối (hay còn gọi là công ty con). Công ty con tham gia vào nhóm công ty độc lập về pháp lý nhưng bị hạn chế quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tài chính. Các công ty thành viên trong nhóm công ty buộc phải tuân theo những quy định cứng, thống nhất trong toàn bộ nhóm công ty, công ty thành viên không thể rút khỏi nhóm công ty. Các liên kết trong nhóm công ty mang tính chi phối, được hình thành trên cơ sở đầu tư góp vốn và một số hình thức khác, bao gồm: 

(i) Liên kết chi phối thông qua đầu tư góp vốn. 

Liên kết chi phối thông qua đầu tư góp vốn là liên kết hình thành từ hoạt động góp vốn của công ty mẹ vào công ty con. Phần vốn góp của công ty mẹ chiếm tỉ lệ trong vốn điều lệ của công ty con đủ để chi phối hoạt động của công ty con. Về bản chất, công ty mẹ chính là cổ đông, thành viên góp vốn của công ty con, tuy nhiên cổ đông, thành viên này giữ quyền chi phối trong công ty con. Công ty mẹ có thể chi phối toàn bộ hoặc một phần hoạt động của công ty con. Theo lẽ thường, tỉ lệ vốn để công ty mẹ chi phối công ty con được xác định là quá bán cho dù thực tế không phải trường hợp nào cũng như vậy. 

(ii) Liên kết chi phối thông qua việc kiểm soát hoạt động công ty 

Liên kết chi phối thông qua việc kiểm soát hoạt động công ty là hình thức công ty mẹ cử đa số người vào ban điều hành công ty con, chi phối hoặc quyết định phương thức kinh doanh công ty con. Việc cử người quản lý từ công ty mẹ vào ban điều hành của công ty con có thể thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong trường hợp trực tiếp, công ty con chấp nhận những điều kiện để trở thành thành viên nhóm công ty, cho phép công ty mẹ được bổ nhiệm các chức danh quản lý quan trọng của công ty, công ty mẹ được quyền sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty bị chi phối. Việc chấp nhận điều kiện này mở được cho công ty con cơ hội gia nhập nhóm công ty, từ đó được hưởng lợi ích từ nhóm công ty. Trong trường hợp gián tiếp, công ty mẹ sở hữu cổ phần, phần vốn góp của công ty con nhưng chưa ở mức chi phối, tuy nhiên sau khi bầu ban điều hành, với số cổ phần, phần vốn góp nắm giữ công ty mẹ vẫn cử được đa số thành viên trong ban điều hành công ty con. 

(iii) Liên kết chi phối thông qua việc chuyển các quyền liên quan đến sở hữu công nghiệp và một số loại quyền khác. 

Liên kết hình thành từ việc công ty chi phối cho phép, nhường quyền cho công ty bị chi phối sử dụng những quyền và lợi ích liên quan đến nhãn hiệu, bí quyết kinh doanh, và tham gia vào một quá trình sản xuất công nghệ. Công ty chi phối sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh để áp đặt hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bị chi phối. Nếu các công ty bị chi phối không tuân theo sự chỉ dẫn của công ty chi phối, công ty bị chi phối có thể bị khai trừ khỏi nhóm công ty, loại khỏi dây chuyền sản xuất, hoặc ngừng cấp các lợi thế về công nghệ, dẫn đến đình trệ sản xuất và đối mặt nguy cơ phá sản.

 Bên cạnh đó, trong một số trường hợp công ty chi phối chuyển giao một số quyền mang tính chất độc quyền được Nhà nước giao (như quyền khai thác tài nguyên) cho công ty bị chi phối. Công ty bị chi phối hoàn toàn phụ thuộc và phải tuân theo chỉ dẫn của công ty chi phối nhằm hưởng các lợi ích từ những quyền mang tính độc quyền như trên. 

– Liên kết không mang tính chi phối 

Bên cạnh liên kết vốn mang tính chi phối, trong nhóm công ty còn có những hình thức liên kết khác như liên kết về vốn nhưng không đủ mức chi phối, liên kết về công nghệ, liên kết về thị trường, liên kết về nhân sự lãnh đạo, những hình thức liên kết này thường mang tính chất liên kết mềm được hình thành trên cơ sở thỏa thuận hợp đồng. Theo đó, công ty mẹ chia sẻ những lợi ích về công nghệ, về thị trường cho các chủ thể kinh doanh khác (gọi là thành viên liên kết)

. Công ty mẹ chi phối một phần hoạt động của thành viên liên kết, yêu cầu thành viên liên kết phải tuân thủ những nguyên tắc và chính sách kinh doanh của toàn bộ nhóm công ty. Thành viên liên kết hoàn toàn độc lập cả về mặt pháp lý cũng như hoạt động kinh doanh thương mại. Thành viên liên kết là công ty có tư cách pháp nhân độc lập, những công ty này có thể dễ dàng trở thành thành viên nhóm công ty và cũng dễ dàng chấm dứt tư cách thành viên của nhóm công ty. Thành viên liên kết thường phải trả phí sử dụng cho những lợi thế kinh tế mà công ty mẹ chuyển giao. 

Thứ hai: Nhóm công ty là tổ hợp có danh tính và không có tư cách pháp nhân 

– Nhóm công ty là một tổ hợp có danh tính, danh tính của nhóm công ty để chỉ một tập hợp các pháp nhân độc lập, hoạt động trên cơ sở liên kết chặt chẽ vì lợi ích kinh tế. Danh tính của nhóm công ty để phân biệt giữa một tập hợp pháp nhân với các pháp nhân trong nhóm công ty và phân biệt với tập hợp pháp nhân khác. Danh tính của nhóm công ty là một quyền tài sản, được xác định là một tên thương mại, là cơ sở để xây dựng hệ thống nhãn hiệu nhóm công ty. Các pháp nhân độc lập trong nhóm công ty có quyền thụ hưởng giá trị tên thương mại, nhãn hiệu và phải trả phí.

Xét từ khía cạnh liên kết của các pháp nhân tạo thành nhóm công ty và bản chất pháp lý của nhóm công ty, có thể thấy, nhóm công ty không có tư cách pháp nhân vì những lý do sau: 

Một là: Nhóm công ty không có tài sản độc lập. Đặc trưng của pháp nhân là phải sở hữu một tài sản độc lập và sử dụng những lợi ích từ tài sản của mình để thực hiện các mục đích của pháp nhân (đối với các pháp nhân kinh doanh đó là mục đích sinh lời). Tài sản của pháp nhân còn là cơ sở để pháp nhân gánh chịu các rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện ý chí của pháp nhân. Sản nghiệp được thiết lập bằng những tài sản do thành viên của pháp nhân đóng góp thông qua việc thực hiện chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho pháp nhân.

Tập đoàn kinh tế (TĐKT) được hình thành từ sự liên kết của các pháp nhân độc lập nhưng không xuất phát từ việc thực hiện góp vốn chung. Nhóm công ty không tiếp nhận sự chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn từ các pháp nhân thành viên, do đó không hình thành tài sản riêng. Nhằm duy trì hoạt động điều hành tại nhóm công ty, các pháp nhân thành viên thực hiện nghĩa vụ đóng góp tài chính hoặc pháp nhân chi phối nhóm công ty trích một phần lợi nhuận để chi trả các chi phí có liên quan.

Nguồn tài chính này là cần thiết để đảm bảo bộ máy quản trị thực hiện các trách nhiệm cần thiết trong hoạt động quản lý nhóm công ty. Tuy nhiên, sự đóng góp hoặc trích lập quỹ này không làm hình thành sản nghiệp riêng cho nhóm công ty, mà thông thường pháp nhân có khả năng chi phối trong nhóm công ty sẽ thực hiện việc tiếp nhận các khoản đóng góp và chi trả để duy trì bộ máy điều hành cho nhóm công ty.

Hai là: Nhóm công ty không có năng lực pháp lý. Nhóm công ty là tập hợp của nhiều pháp nhân, mỗi pháp nhân là một chủ thể pháp lý với năng lực pháp lý đầy đủ, nhân danh chính mình thực hiện các quan hệ pháp luật. Sự tập hợp của các pháp nhân trong nhóm công ty không hướng đến việc hình thành một tổ chức kinh tế mới tham gia thị trường mà thực hiện quá trình liên kết nhằm tối đa hóa lợi ích của từng pháp nhân kinh doanh độc lập.

Do đó, nhóm công ty không có năng lực pháp luật của một chủ thể pháp lý thông thường, cũng không cần đến sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về “sự ra đời” mình, từ đó không có năng lực hành vi để thực hiện các hoạt động nhân danh nhóm công ty. Sự vận động của nhóm công ty chính là sự vận động của các pháp nhân độc lập trong nhóm. Thông thường, pháp nhân chi phối nhóm công ty tiến hành giao dịch nhân danh chính mình để thực hiện giao dịch với danh nghĩa nhóm công ty phù hợp với nhu cầu quản lý, phát triển kinh doanh của nhóm công ty. 

Ba là: Nhóm công ty không chịu trách nhiệm tài sản. Nhóm công ty không có tài sản riêng, không thể chịu trách nhiệm tài sản. Giao dịch của nhóm công ty được thực hiện thông qua công ty chi phối. Mặt khác, nhóm công ty không có năng lực pháp lý, không nhân danh chính mình thực hiện các giao dịch dân sự hay thương mại. Vì vậy, nhóm công ty không chịu trách nhiệm tài sản đối với các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ hoạt động của mình, đồng thời cũng không chịu trách nhiệm pháp lý thay cho các pháp nhân thành viên. Trong trường hợp phát sinh các nghĩa vụ pháp lý từ giao dịch, pháp nhân chi phối chịu trách nhiệm bằng tài sản độc lập của pháp nhân đó. 

Thứ ba: Nhóm công ty có cơ cấu tổ chức phức tạp, nhiều cấp 

Cơ cấu tổ chức nhóm công ty nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa các công ty trong nhóm công ty. Nhóm công ty chỉ có thể phát triển được khi có một cơ cấu tổ chức hợp lý, để các bánh xe trong nhóm công ty vận hành đồng bộ, có hiệu quả. Cơ cấu tổ chức của nhóm công ty phải xác định cụ thể vấn đề quyền hạn, trách nhiệm, phân cấp quản lý.

Đây là một yêu cầu phức tạp, vì các công ty trong nhóm công ty tương đối độc lập, mỗi công ty có một cơ cấu quản lý riêng. Các công ty trong nhóm công ty liên kết với nhau trên cơ sở quan hệ về vốn, quan hệ quản lý hoặc thông qua hợp đồng kinh tế, do đó việc xây dựng thống nhất một cơ cấu quản lý là đòi hỏi không dễ thực hiện trong nhóm công ty. 

Nhóm công ty có thể có nhiều cấp. Cấp một gồm công ty chi phối ban đầu (công ty mẹ) có các công ty bị chi phối các công ty con cấp một). Cấp hai bao gồm công ty chi phối (là công ty con cấp một) có các công ty bị chi phối các công ty con cấp hai). Các nhóm công ty có quy mô lớn, không có giới hạn về số cấp trong nhóm công ty, điều này dẫn đến số lượng thành viên trong nhóm công ty rất lớn. Các công ty mẹ, công ty con cấp một, công ty con cấp hai đều mang chung một họ, đó có thể là thành tố trong tên của công ty mẹ ban đầu.

Vấn đề quản lý hoạt động kinh doanh của các công ty ở cấp dưới không trực tiếp là hết sức khó khăn cho công ty mẹ của nhóm công ty. Các nhóm công ty phải thiết kế cơ chế kiểm soát thông suốt từ công ty mẹ đến các công ty con ở những cấp khác nhau nhằm kiểm tra, giám sát và thực hiện có hiệu quả hoạt động đầu tư kinh doanh của các công ty trong nhóm công ty. 

Thứ tư: Nhóm công ty lớn về quy mô, sử dụng nhiều lao động, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành, doanh thu cao

Nhóm công ty có sự tích tụ về vốn của các công ty trong tập đoàn, bao gồm công ty mẹ, các công ty con, công ty thành viên, công ty liên kết. Quy mô vốn của nhóm công ty được hình thành từ một quá trình tích tụ lâu dài, thông qua hoạt động thu hút nhà đầu tư và thực hiện có hiệu quả các hoạt động kinh doanh. Quy mô vốn lớn tạo ra cho tập đoàn năng lực cạnh tranh hiệu quả, phát triển đầu tư công nghệ, chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm giá thành, gia tăng lợi nhuận, tạo động lực thúc đẩy quá trình phát triển của từng công ty trong tập đoàn nói riêng và toàn bộ tập đoàn nói chung. 

Nhóm công ty tập trung lực lượng lao động quy mô lớn, do các công ty thành viên trong tập đoàn hoạt động thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, lực lượng lao động được phân hóa, từ lao động đơn giản tới lao động bằng tri thức sáng tạo, từ trình độ chuyên môn trung bình đến trình độ chuyên môn cao. Nhu cầu nhân lực trong nhóm công ty lớn, quy trình tuyển chọn và đào tạo được thực hiện nghiêm túc. Nhóm công ty khi tiến hành hoạt động đầu tư tại các quốc gia đều hỗ trợ giải quyết vấn đề việc làm và nâng cao trình độ nguồn nhân lực tại quốc gia tiếp nhận đầu tư. 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, xu thế hội nhập, mở cửa, ưu đãi đầu tư, nhóm công ty đã mở rộng phạm vi hoạt động từ một quốc gia, sang nhiều quốc gia khác nhau, trở thành các tập đoàn đa quốc gia. Các nhóm công ty đã tiến hành đầu tư sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phân công lao động, phát huy lợi thế cạnh tranh ở các khu vực khác nhau. 

Hầu hết các nhóm công ty đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực trong đó có một số ngành nghề kinh doanh mang tính mũi nhọn. Các nhóm công ty trải qua một quá trình phát triển từ ngành nghề kinh doanh chiến lược sau một thời gian phát triển thành các nhóm công ty đa ngành. Mỗi nhóm công ty đều có ngành nghề, lĩnh vực chủ đạo với những sản phẩm có thương hiệu đặc trưng của nhóm công ty. 

Nhóm công ty thực hiện hoạt động đầu tư quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, lợi thế cạnh tranh tốt, trình độ quản lý cao, tối đa hóa lợi nhuận, do đó, nhóm công ty có khả năng đạt được doanh thu lớn và ổn định. Các công ty trong nhóm công ty cũng được hưởng lợi từ sự phát triển chung của nhóm. Khi nhóm phát triển, các công ty cung ứng dịch vụ cho tập đoàn cũng có nguồn thu nhập ổn định, sinh lời hiệu quả.

Phân loại nhóm công ty

Dựa trên các tiêu chí có thể phân loại các liên kết trong nhóm công ty, cụ thể như sau: về việc hình thành liên kết, về thị trường, mức độ liên kết, quản trị liên kết trong tập đoàn.

 Phân loại nhóm công ty trên tiêu chí về nguyên nhân hình thành liên kết trong nhóm 

Dựa trên nguyên nhân hình thành liên kết có thể chia các liên kết nhóm công ty thành 02 loại cơ bản: liên kết nhóm công ty hình thành tự nhiên và liên kết nhóm công ty bằng quyết định hành chính. 

Liên kết nhóm công ty hình thành tự nhiên là dạng liên kết được hình thành do nhu cầu thực tiễn của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp đạt được một quy mô nhất định, nhu cầu liên kết để thực hiện hoạt động kinh doanh xuất hiện, các doanh nghiệp thực hiện việc liên kết tạo thành các tổ hợp doanh nghiệp lớn. Liên kết nhóm công ty hình thành tự nhiên chủ yếu xuất hiện trong khu vực dân doanh, hình thành những TĐKT tư nhân.

 Nhóm công ty tư nhân hình thành theo nhu cầu phát triển, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ đầu tư. Các công ty trong nhóm công ty tư nhân hoạt động độc lập, theo mô hình công ty được quy định trong hệ thống pháp luật về công ty. Hiện nay, tại Việt Nam có nhiều nhóm công ty tư nhân có quy mô lớn như Tập đoàn Doji, Tập đoàn FPT, Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn Intimex, Tập đoàn CEO, Tập đoàn Hòa Phát, Tập đoàn Massan, vv… 

Liên kết nhóm công ty hình thành bằng quyết định hành chính thường xuất hiện tại khu vực kinh tế nhà nước. Quá trình hình thành liên kết không xuất phát từ nhu cầu phát triển mà do sự kết hợp cơ học từ quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. TĐKT nhà nước thông thường hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con.

 Trong đó, công ty mẹ là công ty do Nhà nước sở hữu 100% vốn Nhà nước giao cho cơ quan có trách nhiệm thực hiện hoạt động kinh doanh vốn nhà nước tiến hành thành lập công ty mẹ, xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty mẹ, cử người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty mẹ. Công ty mẹ thành lập và giữ quyền chi phối các công ty con. TĐKT nhà nước thường hoạt động ở những lĩnh vực kinh tế quan trọng của quốc gia. Cơ chế quản lý hoạt động của tập đoàn chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật riêng. Số lượng TĐKT nhà nước ở Việt Nam tính đến hết năm 2014 là 10 tập đoàn.

Phân loại liên kết tập đoàn kinh tế theo quan hệ cạnh tranh trên thị trường

– Liên kết nhóm công ty theo chiều dọc 

Liên kết nhóm công ty theo chiều dọc là liên kết các công ty có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tham gia vào các khâu trong quá trình sản xuất từ cung cấp nguyên liệu, chế biến, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Mỗi công ty đều đóng vai trò là mắt xích quan trọng trong hoạt động của tập đoàn. Các công ty thành viên có thể là khách hàng hoặc nhà cung cấp cho các công ty còn lại.

Sự phát triển của tập đoàn và công ty thành viên có mối quan hệ qua lại. Sự hình thành các tập đoàn theo mô hình này ít bị điều chỉnh bởi quan hệ pháp luật về cạnh tranh. Mô hình nhóm công ty liên kết theo chiều dọc hoạt động ngày càng có hiệu quả trong xu hướng vận động của nền kinh tế toàn cầu, các khâu trong chuỗi giá trị được phân bổ đều khắp ở các quốc gia trên thế giới. 

– Liên kết nhóm công ty theo chiều ngang 

Liên kết nhóm công ty theo chiều ngang là là liên kết của các công ty trong cùng một lĩnh vực sản xuất kinh doanh, liên kết trên cơ sở thỏa thuận về giá bán, tổng lượng hàng hóa bán, phân chia thị trường, khách hàng, kiểu dạng, tiêu chuẩn hàng hóa. Nhóm công ty liên kết theo chiều ngang khi phát triển về quy mô thường dẫn đến độc quyền, hạn chế cạnh tranh.

Pháp luật ở hầu hết các quốc gia đều không cấm các liên kết theo chiều ngang, tuy nhiên, khi quy mô của các tập đoàn đến mức độ nhất định thì pháp luật có quy định để ngăn chặn hiện tượng tập trung kinh tế, chống độc quyền. Đối với các nhóm công ty theo chiều ngang, các quốc gia đều xác định rõ sự khác biệt giữa các nhóm công ty nhà nước và nhóm công ty tư nhân, giữa nhóm công ty kinh doanh ở những lĩnh vực then chốt, hàng hóa đòi hỏi tính ổn định về giá cả để từ đó đưa ra các chính sách phù hợp nhằm duy trì sự tồn tại của các TĐKT theo chiều ngang.

Ở Nhật Bản, Chính phủ cho phép các nhóm công ty theo chiều ngang hoạt động ở những lĩnh vực như thép, luyện nhôm, đóng tàu và một số ngành công nghiệp khác. Ở Mỹ, các nhóm công ty theo chiều ngang hoạt động ở các ngành như than, khai thác mỏ, sản xuất dầu. 

Nhóm công ty theo chiều ngang có một số hình thức tổ chức hoạt động. Một là, trong tập đoàn có một công ty chung, mọi hoạt động mua bán hàng hóa của các công ty khác trong tập đoàn phải thực hiện thông qua công ty chung này, như vậy các công ty trong tập đoàn vẫn độc lập về pháp lý, độc lập sản xuất những phụ thuộc về hoạt động thương mại. Hai là, trong tập đoàn không có một công ty chung, các công ty trong tập đoàn hoàn toàn độc lập về pháp lý, chủ động trong hoạt động thương mại nhưng phụ thuộc về sản xuất do tham gia các thỏa thuận về số lượng, chủng loại, kiểu dáng, tiêu chuẩn hàng hóa. 

 Phân loại liên kết nhóm công ty theo phương thức quản lý 

Thứ nhất: Liên kết nhóm công ty theo liên kết giữa công ty mẹ – công ty con đầu tư đơn cấp 

Nhóm công ty theo mô hình công ty mẹ – công ty con (concern, kozen) là tập hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý, trong đó một công ty đóng vai trò chi phối toàn bộ tập đoàn (công ty mẹ) và các công ty bị chi phối (công ty con). Công ty mẹ trong tập đoàn có thể chi phối công ty con về vốn, về quản lý hoặc về chiến lược phát triển công ty. Liên kết nhóm công ty theo mô hình này có thể có nhiều cấp dưới dạng kim tự tháp, các công ty con cấp 1 có thể trở thành công ty mẹ của các công ty con cấp 2. Các công ty con cấp dưới không được đầu tư ngược lên các công ty con ở cấp trên. 

Thứ hai: Liên kết nhóm công ty có liên kết sở hữu chéo 

Liên kết nhóm công ty có liên kết sở hữu chéo là dạng liên kết nhóm công ty phức tạp, tập hợp của những công ty có sở hữu cổ phần, phần vốn góp của nhau. Liên kết nhóm công ty có liên kết sở hữu chéo là liên kết giữa công ty mẹ và các công ty con, tuy nhiên, các công ty con có thể đầu tư vào công ty mẹ, đầu tư vào công ty con cùng cấp hoặc cùng công ty mẹ đầu tư vào các công ty khác trong nhóm. 

->>>>> Tham khảo thêm: Thành lập công ty

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Mã ngành nghề kinh doanh quán cà phê là mã nào?

Trong nội dung bài viết này, chúng tôi sẽ có những chia sẻ giúp Quý vị làm rõ thắc mắc: Mã ngành nghề kinh doanh quán cà phê là mã...

Mã ngành nghề kinh doanh dịch vụ spa là mã nào?

Mã ngành nghề kinh doanh dịch vụ spa là mã nào? Khi có thắc mắc này, Quý vị đừng bỏ qua những chia sẻ của chúng tôi trong bài...

Thỏa thuận góp vốn có cần lập vi bằng không?

Thỏa thuận góp vốn có cần lập vi bằng không? Khi có thắc mắc này, Quý vị có thể tham khảo nội dung bài viết này của chúng...

Có được gia hạn thời gian góp vốn điều lệ công ty không?

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ có những chia sẻ giúp giải đáp: Có được gia hạn thời gian góp vốn điều lệ công ty không? Mời Quý vị theo dõi, tham...

Mức phạt chậm góp vốn điều lệ mới nhất

Chậm góp vốn điều lệ sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, đồng thời phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng số vốn đã...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi