Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Tư vấn Luật Đất đai – Nhà ở Tổ chức trong nước sử dụng đất là gì?
  • Thứ sáu, 10/05/2024 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 1661 Lượt xem

Tổ chức trong nước sử dụng đất là gì?

Quy mô sử dụng đất của tổ chức có thể hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng ngàn hecta phụ thuộc vào mục đích sử dụng, nhu cầu và khả năng của từng tổ chức.

Khái niệm tổ chức trong nước sử dụng đất

Luật đất đai năm 2003 quy định tổ chức trong nước sử dụng đất, bao gồm:

Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế-xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ; tổ chức kinh tế nhận chuyển QSDĐ.

Luật đất đai năm 2013 có sửa đổi, bổ sung về tổ chức trong nước sử dụng đất theo hướng đầy đủ và bao quát hơn.

Tại Điều 5 quy định tổ chức trong nước sử dụng đất, bao gồm:

Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ, nhận chuyển QSDĐ theo quy định của Luật đất đai. 

Tổ chức trong nước sử dụng đất có những đặc điểm cơ bản sau: 

– Các tổ chức có phạm vi hoạt động rộng lớn và có nhiều thẩm quyền khác nhau (các cơ quan nhà nước, tổ chức sự nghiệp …) do vậy, thường sử dụng đất với những diện tích lớn, giá trị kinh tế cao.

Quy mô sử dụng đất của tổ chức có thể hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng ngàn hecta phụ thuộc vào mục đích sử dụng, nhu cầu và khả năng của từng tổ chức.

Việc quản lý, sử dụng đất của tổ chức thường khó khăn, phức tạp và khó kiểm soát. Đòi hỏi Nhà nước phải phối hợp nhiều biện pháp khác nhau để quản lý, theo dõi việc sử dụng đất của các tổ chức.

Nhiều năm trước đây, việc sử dụng đất của một số tổ chức trong nước còn hạn chế, bất cập như:

Đất được giao, được thuê không đưa vào sử dụng, sử dụng thiếu hiệu quả, đầu tư không đúng tiến độ, đầu cơ dự án giữ đất chờ tăng giá, đầu tư dàn trải dẫn đến dự án treo, quy hoạch treo, đất đai bị bỏ hoang hoá rất lãng phí;

Nhiều tổ chức kinh tế trốn thuế sử dụng đất, nợ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất gây thất thu cho ngân sách nhà nước;

Tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, tự ý chuyển mục đích sử dụng, các tổ chức được giao đất không thu tiền sử dụng thì tư cho thuê lại đất để kinh doanh, tự chia đất cho các bộ nhân viên để làm nhà ở …

Luật đất đai năm 2013 đã có những quy định mới tăng cường kiểm tra, theo dõi, giám sát việc sử dụng đất của các tổ chức để bảo đảm sử dụng đất thực sự hiệu quả, tiết kiệm, tránh lãng phí đất.

– Mục đích sử dụng đất của các tổ chức rất đa dạng. Có tổ chức sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Có những tổ chức sử dụng vào các mục đích, lợi ích riêng của tổ chức, của doanh nghiệp. Căn cứ vào mục đích sử dụng đất thì pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của từng loại tổ chức. 

– Thời hạn sử dụng đất và các nghĩa vụ tài chính của các loại tổ chức là khác nhau. Tổ chức sử dụng đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, đất quốc phòng an ninh, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng … thì sử dụng đất lâu dài và không phải nộp tiền sử dụng đất.

Nhưng các tổ chức sử dụng đất vào mục đích phát triển kinh tế thì sử dụng có thời hạn và phải nộp tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất cho Nhà nước. 

– Nguồn gốc sử dụng đất của tổ chức trong nước thì phần lớn là đất được Nhà nước giao, Nhà nước cho thuê đất.

Ngoài ra, tổ chức có thể nhận chuyển nhượng, thuê, nhận góp vốn bằng QSDĐ vv.. của các tổ chức kinh tế trong nước, tổ chức nước ngoài và hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất.

Trong một số ít trường hợp thì tổ chức được hợp thức hoá, công nhận QSDĐ mà nguồn gốc sử dụng là không hợp pháp nhưng đã sử dụng lâu dài, ổn định. 

Phân loại tổ chức trong nước sử dụng đất

Có nhiều cách phân loại tổ chức trong nước sử dụng đất, dựa trên nhiều căn cứ khác nhau như căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất, căn cứ vào thời hạn sử dụng đất để phân loại.

Tuy vậy, theo pháp luật đất đai thì việc phân loại tổ chức sử dụng đất chủ yếu căn cứ vào mục đích sử dụng đất và nghĩa vụ tài chính, cụ thể: 

– Tổ chức được giao đất không thu tiền sử dụng đất, bao gồm:

Tổ chức sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh;

Tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp, tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước. 

– Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, bao gồm: Tổ chức kinh tế được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;

Tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng QSDĐ gắn với hạ tầng. 

– Tổ chức được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc trả tiền thuê đất một lần cho toàn bộ quá trình thuê bao gồm: Tổ chức kinh tế sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối;

Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh; đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để cho thuê; tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp;

Đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối hoặc sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. 

Quyền của tổ chức trong nước sử dụng đất 

Quyền của tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất 

Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật đất đai năm 2013, họ không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê QSDĐ, thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ; không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Các tổ chức này không được tham gia thị trường QSDĐ, thị trường bất động sản, bởi lẽ mục đích sử dụng của nhóm này nhìn chung là để xây dựng các công trình quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng không nhằm mục đích kinh doanh mà nhằm bảo vệ, duy trì sự ổn định, bền vững của các công trình của Nhà nước, của xã hội và để bảo vệ môi trường.

Đối với loại tổ chức này, thời gian qua trên thực tế còn một số tổ chức sử dụng đất với những diện tích đất khá lớn nhưng sử dụng lãng phí, kém hiệu quả, bỏ hoang đất đai hoặc sử dụng sai mục đích, tự chuyển sang kinh doanh, cho thuê v…

Nhiều tổ chức sự nghiệp chưa tự chủ tài chính được giao đất không thu tiền, xây dựng các công trình trên đất bằng vốn ngân sách cấp còn lãng phí tiền của của Nhà nước, khó khăn khi kiểm tra, giám sát việc sử dụng đất để bảo đảm sử dụng tiết kiệm, thực sự hiệu quả.

Khi di chuyển một số tổ chức sự nghiệp ở trung tâm các đô thị lớn ra các vùng ngoại đô thị theo quy hoạch còn gặp nhiều khó khăn.

Do tính bao cấp nên thường chậm trễ kéo dài, thiếu minh bạch, thiếu sự tự chủ năng động trong việc sử dụng đất và xây dựng công trình trên đất.

Từng bước khắc phục tình trạng này, Luật đất đai năm 2013 đã quy định một số tổ chức sự nghiệp tự chủ tài chính phải thuê đất Nhà nước trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê hoặc trả tiền thuê hàng năm để bảo đảm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả hơn. 

Quyền của tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê 

Các tổ chức kinh tế được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;

Dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng QSDĐ gắn với hạ tầng và các tổ chức kinh tế thuê đất trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối;

Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh theo quy định của pháp luật thì có quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật đất đai năm 2013, ngoài ra còn có các quyền chuyển QSDĐ, cụ thể: 

– Quyền chuyển nhượng QSDĐ và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất; 

– Quyền cho thuê, cho thuê lại QSDĐ và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất 

Luật đất đai năm 2013 quy định chú trọng và linh hoạt hơn về các dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở, dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện nay.

Theo đó, khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở tổ chức kinh tế được chuyển nhượng QSDĐ gắn với việc chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án khi đã có giấy chứng nhận QSDĐ. Người nhận chuyển nhượng QSDĐ phải thực hiện dự án đầu tư đúng theo tiến độ đã được phê duyệt. 

UBND cấp tỉnh căn cứ vào quy định của Chính phủ về điều kiện loại đô thị để cho phép chủ đầu tư được chuyển nhượng QSDĐ dưới hình thức phân lô sau khi đã hoàn thành đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng gồm các công trình dịch vụ, công trình hạ tầng kĩ thuật, hạ tầng xã hội theo quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt; 

Đảm bảo kết nối với hệ thống hạ tầng chung của khu vực trước khi thực hiện việc chuyển nhượng QSDĐ cho người dân tự xây dựng nhà ở; đảm bảo cung cấp các dịch vụ thiết yếu.

Chủ đầu tự đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính về đất đai như tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế, lệ phí về đất đai.

Chuyển nhượng QSDĐ dưới hình thức phân lô, bán nền đất chỉ được thực hiện tại các khu vực không nằm trong địa bàn các quận nội thành của các đô thị loại đặc biệt;

Khu vực có yêu cầu cao về kiến trúc cảnh quan, khu vực trung tâm và xung quanh các công trình là điểm nhấn kiến trúc trong đô thị; mặt tiền các tuyến đường cấp khu vực trở lên và các tuyến đường cảnh quan chính trong đô thị v.v.. 

– Đối với dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê thì việc chuyển nhượng QSDĐ gắn với chuyển nhượng toàn bộ dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phải đáp ứng các điều kiện chung khi thực hiện các hình thức chuyển QSDĐ gồm:

Phải có giấy chứng nhận QSDĐ, không tranh chấp, không bị kê biên để bảo đảm thi hành án, trong thời hạn sử dụng đất và dự án phải xây dựng xong các công trình hạ tầng kĩ thuật tương ứng theo tiến độ ghi trong dự án đã được phê duyệt. 

– Quyền tặng cho QSDĐ cho Nhà nước; cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng; tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; 

– Quyền thế chấp bằng QSDĐ và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam; 

– Quyên góp vốn bằng QSDĐ và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định.

Tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính (được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà tiền thuê đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước) thì cũng có quyền và nghĩa vụ như quy định trên, việc thực hiện các quyền phải được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 

Pháp luật hiện hành cũng chú trọng quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

Theo đó, trường hợp thực hiện dự án xây dựng kinh doanh nhà ở mà được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ như trường hợp không được miễn hoặc không được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

Trường hợp thực hiện dự án đầu tư vì mục đích lợi nhuận không thuộc dự án xây dựng kinh doanh nhà mà được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ như trường hợp không được miễn, không được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất;

Trường hợp dự án đầu tư vì mục đích lợi nhuận mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ như trường hợp Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm đối với loại đất có mục đích sử dụng tương ứng. 

Việc thực hiện các hình thức chuyển QSDĐ được thực hiện thường xuyên, liên tục hoặc không thường xuyên phụ thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của tổ chức.

Các tổ chức kinh doanh bất động sản thì thường xuyên thực hiện các giao dịch chuyển QSDĐ và tài sản gắn liền với đất, đó là một trong các công đoạn không thể thiếu của quá trình kinh doanh của tổ chức để thu lợi nhuận.

Ví dụ: tổ chức kinh doanh địa ốc; tổ chức kinh doanh xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng, cho thuê …

Nhóm tổ chức kinh doanh các lĩnh vực khác thì không thường xuyên thực hiện chuyển QSDĐ mà thường chỉ chuyển quyền khi thay đổi địa điểm, phương thức kinh doanh hoặc cơ cấu lại vốn kinh doanh. 

Hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuế trước đây theo Luật đất đai năm 2003 chỉ quy định đối với người nước ngoài thuê đất ở Việt Nam.

Nay Luật đất đai năm 2013 mở rộng áp dụng cho cả các tổ chức kinh tế trong nước thuê đất lựa chọn trả tiền thuê một lần.

Tổ chức kinh tế giao đất có thu tiền sử dụng đất chỉ còn áp dụng cho hai loại tổ chức kinh tế đầu tư xây dựng nhà ở để bán và cho thuê và dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng QSDĐ gắn với hạ tầng.

Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng và cho thuê đất trả tiền thuê một lần đều có hình thức chuyển QSDĐ gồm:

Chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng theo quy định pháp luật.

Về các hình thức chuyển QSDĐ của tổ chức kinh tế, so với hộ gia đình, cá nhân (sử dụng đất mà không phải là đất thuê Nhà nước trả tiền thuế hàng năm) thì do đặc tính của tổ chức là khác với hộ gia đình, cá nhân nên các tổ chức kinh tế không có các quyền chuyển đổi quyền sử dụng, thừa kế quyền sử dụng (đối với cá nhân).

Không được mở rộng về đối tượng nhận thế chấp QSDĐ như hộ gia đình, cá nhân nhưng các tổ chức kinh tế lại được mở rộng hơn về quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyên góp vốn bằng QSDĐ.

Theo đó, tổ chức kinh tế trong nước không chỉ thực hiện quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền góp vốn bằng QSDĐ với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước mà còn được thực hiện với người nước ngoài. 

Việc chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất cũng đa dạng, phong phú hơn về phương pháp, cách thức thực hiện: Tổ chức có thể chuyển nhượng toàn bộ dự án, có thể chuyển nhượng một phần dự án hoặc chuyển nhượng từng lô đất nhỏ lẻ trong dự án.

Có thể chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất dưới hình thức hợp đồng mua bán, chuyển nhượng bất động sản hoặc dưới các hình thức kí kết hợp đồng thương mại, hợp đồng tín dụng và được hưởng quyền mua nhà đất…

Khi tổ chức kinh tế thực hiện các giao dịch về QSDĐ và tài sản gắn liền với đất thì mỗi hình thức giao dịch đều có một vai trò và ý nghĩa riêng.

Hình thức thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tạo điều kiện cho tổ chức kinh tế vừa có mặt bằng kinh doanh vừa có thể nhân lên số vốn để đầu tư.

Quyền góp vốn bằng QSDĐ để hợp tác sản xuất kinh doanh phát huy ưu điểm và giảm nhược điểm của các tổ chức liên doanh liên kết, đặc biệt trong lúc thị trường khó khăn với nhiều nguy cơ bị phá sản doanh nghiệp, nguy cơ bị thu hồi đất.

Quyền chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất là quyền đặc biệt quan trọng, mang tính thương mại rõ nét nhất, là loại giao dịch trung tâm.

Tuy vậy, cần phải tạo điều kiện và phát triển hài hòa các giao dịch QSDĐ và tài sản gắn liền với đất để các giao dịch này bổ sung, hỗ trợ cho nhau,bảo đảm sự phát triển cân xứng của thị trường QSDĐ, của hàng hoá QSDĐ. 

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế và tổ chức sự nghiệp công lập sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm 

Các tổ chức này có các quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật đất đai, ngoài ra còn có các quyền: 

– Thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam. 

– Bán tài sản, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê khi có đủ điều kiện quy định. 

– Cho thuê lại QSDĐ theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm đối với đất đã được xây dựng xong kết cấu hạ tầng trong trường hợp đầu tư xây dựng kinh doanh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

– Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập sử dụng đất thuê của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất thì có các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật về dân sự. 

Các tổ chức kinh tế và tổ chức sự nghiệp công lập sử dụng đất thuê trả tiền thuê hàng năm không có các quyền chuyển QSDĐ, thu hồi đất không được bồi thường về đất, bởi lẽ các tổ chức này chưa trả tiền giá trị QSDĐ tương ứng với thời gian thuê đất cho Nhà nước.

Tuy vậy, các tổ chức này được chuyển quyền sở hữu tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê. Trường hợp bán tài sản thuộc sở hữu của mình thì Nhà nước quyết định cho người mua tài sản tiếp tục thuê đất. 

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng QSDĐ, chuyển mục đích sử dụng đất 

Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng QSDĐ, chuyển mục đích sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật đất đai. 

– Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng QSDĐ có nguồn gốc do được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc Nhà nước cho thuê đất trả trước tiền một lần cho cả thời gian thuê mà tiền sử dụng đất.

Tiền thuê đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có quyền và nghĩa vụ như quy định cho tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. 

Tổ chức kinh tế sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất không thu tiền sử dụng đất sang đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định cho tổ chức kinh tế sau khi chuyển hình thức sử dụng đất và lựa chọn hình thức thực hiện nghĩa vụ tài chính. 

So với Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 đã có nhiều quy định sửa đổi, bổ sung về quyền của các tổ chức trong nước sử dụng đất, bao gồm:

Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm, chú trọng quy định quyền của tổ chức đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở, dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê;

Quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng QSDĐ, chuyển mục đích sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế nhận góp vốn bằng QSDĐ; ư

QSDĐ của tổ chức kinh tế khi giải thể, phá sản, quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế được thuê đất để xây dựng công trình ngầm…để bảo đảm cho các tổ chức quản lý, sử dụng đất thực sự tiết kiệm, hiệu quả, khắc phục tình trạng bỏ hoang hoá, lãng phí, sai mục đích gây nhiều thiệt hại cho lợi ích kinh tế, xã hội.

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Nhà nước không được ra quyết định thu hồi đất trong những trường hợp nào?

Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định và tiến hành thu hồi lại quyền sử dụng đất đã trao cho người sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất nhưng có hành vi vi phạm pháp luật về đất...

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giao đất đối với những đối tượng nào?

Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi...

Trường hợp nào không được cưỡng chế thu hồi đất?

Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện khi có đủ các điều kiện quy định tại Luật đất đai...

Chuyển đổi đất vườn sang đất ở hết bao nhiêu tiền?

Như vậy UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện) quyết định cho hộ gia đình, cá nhân chuyển mục đích sử dụng đất sau khi nhận được đơn và thửa đất xin chuyển thuộc khu vực được phép...

Giấy chuyển nhượng đất viết tay có giá trị không?

Luật đất đai quy định giấy tờ chuyển nhượng đất phải được công chứng chứng thực. Vậy Giấy chuyển nhượng đất viết tay có giá trị...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi