Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Tư vấn Luật Lao động – Tiền Lương Thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia
  • Thứ ba, 14/05/2024 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 507 Lượt xem

Thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia

Điều 72 là điều luật khá đặc biệt, toàn bộ hoạt động về thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia được quy định trong một điều luật.

Quy định về Thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia như thế nào?

Điều 72 Bộ luật lao động quy định về Thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia như sau:

Điều 72. Thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia

1. Nguyên tắc, nội dung thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thực hiện theo quy định tại 

Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật này.

2. Quy trình tiến hành thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia do các bên thỏa thuận quyết định, bao gồm cả việc thỏa thuận tiến hành thương lượng tập thể thông qua Hội đồng thương lượng tập thể quy định tại Điều 73 của Bộ luật này.

3. Trường hợp thương lượng tập thể ngành thì đại diện thương lượng là tổ chức công đoàn ngành và tổ chức đại diện người sử dụng lao động cấp ngành quyết định. 

Trường hợp thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thì đại diện thương lượng do các bên thương lượng quyết định trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận. 

Bình luận về Thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia

Điều 72 là điều luật khá đặc biệt, toàn bộ hoạt động về thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia được quy định trong một điều luật. 

| Bản chất thương lượng tập thể ngành cũng là một trường hợp của thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia, song trong điều kiện đặc thù của Việt Nam, nó được tách thành một trường hợp với một số quy định riêng. Tại thời điểm hiện nay, tổ chức của người lao động không thuộc hệ thống Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam mới chỉ được thành lập và hoạt động ở cấp doanh nghiệp.

Ở cấp ngành mới chỉ có hệ thống công đoàn ngành thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, nên quy định riêng đối với thương lượng tập thể ngành trong Điều 72 chỉ là quy định về chủ thể bên người lao động trong trường hợp thương lượng tập thể ngành được chỉ rõ là công đoàn ngành. Đối với các nội dung khác, điều luật quy định áp dụng chung đối với cả thương lượng tập thể ngành và thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia. 

Về nguyên tắc, nội dung thương lượng, khoản 1 Điều 72 không đưa ra quy định riêng đối với thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia, mà thực hiện theo các nguyên tắc chung của thương lượng tập thể quy định tại Điều 66 và Điều 67 của BLLĐ. 

Đối với các nội dung khác, cách quy định của Điều 72 là tôn trọng tối đa sự tự nguyện trong thương lượng tập thể nên đã trao quyền cho các bên thương lượng tự quyết định trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận, cụ thể: 

– Quy trình tiến hành thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia do các bên thỏa thuận quyết định. Điều này có nghĩa là việc thương lượng như thế nào hoàn toàn do chính các bên tự xác định với nhau. Pháp luật không quy định về quy trình các bên phải theo mà chỉ ghi nhận và tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận đó. 

– Đại diện thương lượng cũng do các bên thương lượng quyết định trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận. Riêng đối với thương lượng tập thể ngành thì do chủ thể thương lượng đã được xác định là tổ chức công đoàn ngành và tổ chức đại diện người sử dụng lao động cấp ngành nên điều luật quy định trao quyền cho những chủ thể này quyết định về đại diện thương lượng. 

Thương lượng tập thể ở các cấp ngoài doanh nghiệp rất đa dạng, nó có thể là theo ngành, nghề hoặc theo địa lý vùng, miền hoặc cũng có thể chỉ là một nhóm doanh nghiệp theo một ngành, nghề hoặc khu vực địa lý nào đó. Mỗi phạm vi, cấp độ thương lượng khác nhau lại có thể có quy trình, chủ thể và đại diện thương lượng khác nhau, nên cách quy định của Điều 72 là cách quy định phù hợp, theo đó, pháp luật không đưa ra những quy định cụ thể về quy trình, chủ thể đại diện thương lượng mà trao quyền cho các bên quyết định trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận.

Cách quy định này vừa bảo đảm phù hợp với nguyên tắc tự nguyện của thương lượng tập thể, vừa bảo đảm phù hợp với tính đa dạng của thương lượng tập thể ở các cấp ngoài doanh nghiệp. 

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn được hiểu như thế nào?

Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn được hiểu như thế nào? Cùng chúng tôi tìm hiểu để có thêm thông tin giải đáp qua bài viết này...

Thời gian thử việc đối với trình độ đại học là bao lâu?

Thời gian thử việc đối với trình độ đại học là bao lâu? là thắc mắc được chúng tôi chia sẻ, làm rõ trong bài viết này. Mời Quý vị theo dõi, tham...

Hành vi nào được xem là tiết lộ bí mật kinh doanh?

Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh...

Ai có thẩm quyền ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động?

Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động là văn bản do người sử dụng lao động ban hành nhằm thông báo việc chấm dứt hợp đồng lao động với người lao...

Công ty có phải thông báo trước khi hợp đồng lao động hết thời hạn không?

Từ 1/1/2021, khi Bộ luật lao động 2019 có hiệu lực thi hành, công ty không phải thông báo với người lao động khi hợp đồng lao động hết thời...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi