Luật Hoàng Phi Tìm hiểu pháp Luật Dân sự Nguyên tắc Fair use là gì?

Nguyên tắc Fair use là gì?

Nguyên tắc Fair use cho phép trích dẫn hoặc sao chép các tư liệu của người khác đã đăng ký bản quyền một cách phi lợi nhuận mà không cần xin phép.

Nguyên tắc Fair use là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật về sở hữu trí tuệ. Với nguyên tắc này, đã giúp Google thoát khỏi các vấn đề về pháp lý. Vậy nguyên tắc Fair use là gì? Khi sử dụng nguyên tắc Fair use cần tuân thủ quy tắc nào? Để giải đáp những thắc mắc đó, mời Quý bạn đọc đến với bài viết nguyên tắc fair use là gì?

Khái niệm nguyên tắc Fair use

Nguyên tắc Fair use, hay còn gọi là nguyên tắc sử dụng hợp lý được ghi nhận trong Luật bản quyền Hoa Kì. Thông thường để xem xét việc sử dụng hợp lý trên 4 tiêu chí:

(1) Căn cứ vào mục đích và đặc điểm sử dụng. Việc sử dụng được coi là hợp lý nếu sử dụng vào mục đích phi lợi nhuận.

(2) Tác phẩm có bản quyền.

(3) Số lượng tư liệu được sử dụng.

(4) Việc sử dụng không ảnh hưởng đến mức thay thế tác phẩm gốc.

Như vậy, Nguyên tắc Fair use cho phép trích dẫn hoặc sao chép các tư liệu của người khác đã đăng ký bản quyền một cách phi lợi nhuận mà không cần xin phép.

Hình thức sử dụng hợp lý

Nguyên tắc Fair use cho phép sử dụng tư liệu với các hình thức sau:

– Trích dẫn tác phẩm với mục đích minh hoặc bình luận.

– Sự dụng tư liệu cho mục đích phóng sự.

– Sử dụng với mục đích nghiên cứu.

– Sử dụng cho mục đích giáo dục, không nhằm mục đích lợi nhuận.

– Nhắc lại không làm thay đổi nội dung.

Nhìn chung, ta có thấy nguyên tắc fair use trong pháp luật sở hữu trí tuệ đòi hỏi người sử dụng không xin phép mà không vì mục đích lợi nhuận và trên cơ sở tôn trọng bản quyền.

Nguyên tắc fair use trong pháp luật Việt Nam

Nguyên tắc fair use là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật về sở hữu trí tuệ. Mặc dù nguyên tắc này chưa được ghi nhận chính thức trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, tuy vậy pháp luật hiện hành cũng có các quy định đảm bảo nguyên tắc này. Điều này cho thấy sự tiến bộ, hợp lý của các quy định hiện hành. Nguyên tắc fair use được thể hiện tương đối rõ nét tại điều 25, Luật Sở hữu trí tuệ, cụ thể như sau:

“Điều 25. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao

  1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:

a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;

b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;

c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;

d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;

đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;

e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;

g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;

h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;

i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;

k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.

2.Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

3.Các quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính.”

Ngoài ra, việc sử dụng hợp lý còn được quy định tại điều 26, 32, 33 Luật Sở hữu trí tuệ với giới hạn nhất định.

Sự khác biệt giữa nguyên tắc fair use theo quy định Luật bản quyền Hoa Kỳ và Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam

Với đặc thù về kinh tế – xã hội khác nhau dẫn đến sự khác nhau của các quy định pháp luật. Không ngoại lệ, về nguyên tắc fair use được ghi nhận trong pháp luật sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ có 2 điểm khác biệt rõ rệt nhất được nêu dưới đây:

– Về việc xác định sử dụng hợp lý:

Theo Luật bản quyền Hoa Kỳ, việc sử dụng hợp lý được xem xét với 4 yếu tố: (1) Mục đích sử dụng phi lợi nhuận; (2) Tác phẩm được bảo hộ; (3) Số lượng và phần thực chất được sử dụng so với tổng thể; (4) Vấn đề ảnh hưởng đối với tiềm năng thị trường và giá trị tác phầm được bảo hộ.

Khác với Luật Bản quyền Hoa Kỳ, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam xác định các trường hợp sử dụng hợp lý bằng phương pháp liệt kê, theo quy định tại điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ.

– Về ngoại lệ của nguyên tắc sử dụng hợp lý:

Theo quy định tại điều 107, Luật bản quyền Hoa Kỳ, tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả đều có thể sao chép nếu đáp ứng 4 yếu tố được nêu ở trên, kể cả việc sao chép tác phẩm nhằm mục đích học tập.

Ngược lại, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính không được áp dụng nguyên tắc sử dụng hợp lý. Bên cạnh đó, việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập cũng không được công nhận là sử dụng hợp lý.

Qua bài viết Nguyên tắc fair use là gì, chúng tôi mong rằng Quý bạn đọc đã có được những thông tin hữu ích.

Đánh giá bài viết:

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN: 1900.6557 – TƯ VẤN TRỰC TUYẾN 24/7

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557“Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Hotline: 1900.6557