Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Khái niệm quan hệ pháp luật an sinh xã hội
  • Thứ ba, 14/05/2024 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 1375 Lượt xem

Khái niệm quan hệ pháp luật an sinh xã hội

Ở Việt Nam, dưới góc độ pháp lý, phạm vi an sinh xã hội thường được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là chủ yếu bao gồm các vấn đề bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội.

Khái niệm quan hệ pháp luật an sinh xã hội như thế nào? Mời quý độc giả cùng theo dõi nội dung bài viết dưới đây.

Quan hệ pháp luật an sinh xã hội là gì?

Trong cuộc sống, các cá nhân, gia đình và nhiều khi cả cộng đồng có thể gặp phải những rủi ro do thiên tai hay những biến động trong đời sống kinh tế, xã hội gây ra như bão lụt, bệnh tật, chiến tranh… Những rủi ro này khó lường trước và cũng khó có thể phòng ngừa được, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của chính bản thân họ và cộng đồng. Bởi vậy, từ xa xưa, các cá nhân, gia đình đều tìm những biện pháp đề phòng cần thiết để tự bảo vệ mình trước các rủi ro. Họ có thể áp dụng các cơ chế truyền thống để chia sẻ rủi ro dựa trên sự tự nguyện tích luỹ, trao đổi tài sản… trong phạm vị gia đình, họ hàng và cộng đồng làng xã…

Cơ chế này hình thành nên những quan hệ xã hội đầu tiên có mục đích tương trợ cộng đồng, chủ yếu trên cơ sở những quan hệ tình cảm, trách nhiệm, bổn phận con người nên được điều chỉnh bằng tập quán làng xã, họ tộc và những quan niệm đạo đức trong xã hội. Ở khía cạnh nào đó, những quan hệ này không chắc chắn song cho đến nay, nó vẫn được duy trì như những nét đẹp truyền thống của mỗi gia đình, cộng đồng, bất chấp sự ảnh hưởng của đời sống hiện đại, có thể nhận được sự hỗ trợ nhưng hầu như không chịu sự điều chỉnh của công quyền. 

Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá và thành thị hoá nông thôn đã thay đổi cơ cấu xã hội, nhiều cá nhân lập nghiệp xa gia đình và cộng đồng làng xã, họ tộc để gia nhập cuộc sóng công nghiệp nơi thành thị. Điều đó cũng làm mất dần tác dụng của cơ chế an sinh xã hội truyền thống và không chính thức này. Trong xã hội hiện đại đã bắt đầu xuất hiện các loại rủi ro mới như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất việc làm, phá sản do đầu tư cổ phiếu, thiên tai và nhân tại ngày càng khắc nghiệt…

Vì vậy, cơ chế bảo đảm có tính truyền thống nói trên đã không thể giúp cho các cá nhân khắc phục hiệu quả các rủi ro trong xã hội hiện đại. Đặc biệt, trong cơ chế kinh tế thị trường những rủi ro này không chỉ xảy ra đối với một hoặc một vài cá nhân mà nó có thể xảy ra đối với một số lượng lớn các thành viên trong xã hội như trường hợp các doanh nghiệp, công ty bị phá sản, giải thể dẫn đến người lao động bị mất việc làm. Cũng vì quan niệm lợi nhuận tối ưu của cơ chế thị trường mà nhiều hoàn cảnh khó khăn như tàn tật nặng, tâm thần, người già cô đơn… không được giúp đỡ đúng mức.

Thực tế cũng xuất hiện những cơ chế chia sẻ rủi ro mới mang tính thị trường như ký kết các hợp đồng bảo hiểm nhưng đây là hình thức kinh doanh theo nguyên tắc người kinh doanh phải có lợi, không có tính bắt buộc nên không nhiều người tham gia. Đối với những người có thể tham gia cơ chế này thì quan hệ của các bên hình thành trên cơ sở thoả thuận tự nguyện, do luật dân sự, luật thương mại điều chỉnh. Vì vậy, việc khắc phục rủi ro cho những người tham gia loại bảo hiểm này chủ yếu mang tính cá thể, tác dụng xã hội của hình thức này rất hạn chế. 

Vì vậy, ngày nay, bên cạnh những hình thức trên, đời sống xã hội cần một cơ chế an toàn hơn, đó là sự quản lý và chia sẻ rủi ro có bảo đảm chắc chắn từ phía Nhà nước, mang tính xã hội và thực hiện trong cả cộng đồng để tất cả các thành viên đều được bảo vệ và những rủi ro của họ (nếu có) được chia sẻ trong phạm vi rộng rãi. Nó không những giúp người gặp rủi ro vượt qua khó khăn mà còn có thể ngăn ngừa hậu quả ở mức độ nhất định, giúp họ tái hoà nhập cộng đồng trong những trường hợp rủi ro xảy ra.

Cơ chế quản lý và chia sẻ rủi ro thông qua vai trò của Nhà nước và hoàn toàn mang tính xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh như bảo hiểm xã hội và các hình thức trợ giúp xã hội khác sẽ góp phần cải thiện đáng kể điều kiện sống của người dân và tạo môi trường tốt cho việc phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Việc thực hiện mục đích này làm hình thành nên những quan hệ xã hội mới, thuần tuý với mục đích đảm bảo an toàn trong đời sống của cộng đồng xã hội. Đó là quan hệ giữa nhà nước, thông qua các thiết chế được nhà nước thành lập hoặc thừa nhận từ cộng đồng xã hội, do nhà nước tổ chức và điều hành, với tất cả các thành viên trong xã hội gặp khó khăn cần được trợ giúp, không bị phân biệt và giới hạn theo bất cứ một tiêu chí nào.

Từ nhu cầu hình thành, mục đích tổn tại, phạm vi lan toả và tác dụng đặc biệt đối với xã hội của những quan hệ này mà có thể gọi đó là các quan hệ an sinh xã hội. Do tầm quan trọng của vấn đề an sinh trong điều kiện xã hội phát triển, những quan hệ này phải được pháp luật điều chỉnh. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với nó phải theo một hướng khác với sự điều chỉnh những quan hệ mang tính chia sẻ rủi ro truyền thống hoặc theo hình thức kinh doanh nói trên. Yêu cầu đó làm hình thành nên một lĩnh vực pháp luật mới, luật an sinh xã hội. Nó được xây dựng trên cơ sở các chính sách xã hội của mỗi quốc gia, có thể nóng hay hẹp tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị xã hội của quốc gia đó. Trong đó, các nhà nước, nhân danh người quản lý và đại diện chính thức cho toàn xã hội, đều xác định trách nhiệm của mình trong việc thực hiện an sinh xã hội. Nhưng để có hiệu quả tốt hơn, nhà nước phải có chính sách thu hút cả cộng đồng cũng như các tổ chức, cá nhân nếu có khả năng và lòng hảo tâm để họ tham gia thực hiện vấn đề này. Đặc biệt, nhà nước phải có những quy định hợp lý để xác định các trường hợp, đối tượng cần trợ giúp, hình thức trợ giúp hoặc đối tượng phải tham gia quan hệ đóng quỹ như một điều kiện thụ hưởng… tuỳ theo từng loại hình tổ chức.

Những quy định của nhà nước phải thực hiện được mục đích của vấn đề an sinh xã hội nhưng không làm ảnh hưởng đến các chính sách khác như chính sách lao động, việc làm, khuyến khích phát triển kinh tế… Như vậy, các chủ thể này khi tham gia quan hệ sẽ phải tuân theo những khuôn khổ pháp lý nhất định. Những quan hệ an sinh xã hội trong khuôn khổ các quy định của pháp luật được gọi là các quan hệ pháp luật an sinh xã hội. 

Như vậy, quan hệ pháp luật về an sinh xã hội là những quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực nhà nước tổ chức, thực hiện các hình thức bảo vệ, trợ giúp cho các thành viên xã hội trong những trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo an toàn trong đời sống xã hội, được các quy phạm pháp luật an sinh xã hội điều chỉnh.

Từ đó, có thể thấy rằng các quan hệ xã hội hình thành với mục đích an sinh xã hội trên thực tế tồn tại dưới nhiều hình thức: do Nhà nước tổ chức và đảm bảo thực hiện hoặc do các bên tự do thiết lập trên cơ sở nhu cầu và lợi ích của mỗi bên hoặc hình thành trong đời sống các cộng đồng dân cư làng xã, họ tộc, tôn giáo, nghề nghiệp…

Pháp luật chỉ điều chỉnh những quan hệ an sinh xã hội mang tính xã hội sâu sắc, được Nhà nước tổ chức và đảm bảo thực hiện trên phạm vi rộng lớn hoặc những quan hệ cần thiết phải quy định cụ thể quyên và nghĩa vụ của các bên tham gia. Những quan hệ mang tính an sinh xã hội khác không do pháp luật điều chỉnh vẫn tồn tại và vận hành theo tập quán hoặc trên cơ sở tình cảm, quan niệm đạo đức của cộng đồng. 

An sinh xã hội, như Chương 1 đã phân tích, được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Ở Việt Nam, dưới góc độ pháp lý, phạm vi an sinh xã hội thường được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là chủ yếu bao gồm các vấn đề bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội. Khi được pháp luật điều chỉnh, các quan hệ đó trở thành các quan hệ pháp luật an sinh xã hội tương ứng: quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội, quan hệ pháp luật về cứu trợ xã hội, quan hệ pháp luật về ưu đãi xã hội. 

Đặc điểm quan hệ pháp luật an sinh xã hội

Những quan hệ pháp luật an sinh xã hội cụ thể có đôi tượng chủ thể khác nhau, mang những tính chất khác nhau để thực hiện những mục đích đa dạng của vấn đề an sinh xã hội nhưng vẫn có những nét chung nhất định. Có thể phân biết loại quan hệ này với các quan hệ khác trong hệ thống các quan hệ bảo đảm xã hội (quan hệ an sinh xã hội hiểu theo nghĩa rộng) và các quan hệ chia sẻ rủi ro khác như sau: 

Thứ nhất, trong quan hệ pháp luật an sinh xã hội, thông thường có một bên tham gia là Nhà nước. 

Nhà nước tham gia quan hệ này thông qua các cơ quan do Nhà nước thành lập hoặc các tổ chức được Nhà nước thừa nhận và trao trách nhiệm. Các chủ thể đại diện cho Nhà nước thường tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội với tư cách là người thực hiện các chế độ an sinh xã hội bằng nguồn lực của mình, ngân sách Nhà nước hoặc với tư cách là người tổ chức và huy động các nguồn lực xã hội để Nhà nước bổ sung cho các chế độ an sinh cố định trong những trường hợp cần thiết.

Như vậy, có thể hiểu Nhà nước vừa là người đảm bảo tối thiểu các nhu cầu an sinh xã hội trong phạm vi quốc gia, vừa là người tạo phong trào thực hiện các hoạt động tương trợ Cộng đồng để các thành viên trong xã hội, thông qua Nhà nước, bù đắp những khoảng trống mà pháp luật an sinh xã hội không thể đáp ứng được do tính chất nghiêm trọng của rủi ro cần chia sẻ trong những trường hợp cá biệt hoặc để mục đích an sinh xã hội đạt được ở mức độ cao hơn. 

Thứ hai, tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội có thể là tất cả các thành viên trong xã hội, không phân biệt theo bất cứ tiêu chí nào. 

Khác với các quan hệ tương trợ cộng đồng khác có giới hạn trong những phạm vi nhất định dựa trên cơ sở địa bàn sinh sống, tôn giáo, họ tộc hoặc các điều kiện tham gia khác, quan hệ pháp luật an sinh xã hội được hình thành trong phạm vi rộng lớn của quốc gia. Do Nhà nước, chủ thể đại diện cho toàn xã hội, tham gia với tư cách là một bên của quan hệ này nên tất cả các thành viên của xã hội trong phạm vi quốc gia đều có thể được hưởng trợ giúp. Để được hưởng một chế độ cụ thể nào đó chỉ phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế đã được pháp luật xác định, không có bất kỳ một giới hạn hoặc một sự phân biệt nào khác. Thậm chí, nhiều trường hợp còn không có cả sự phân biệt về quốc tịch như phần lớn các quan hệ xã hội được pháp luật quốc gia điều chỉnh. Ví dụ, khi có thiên tai, hoạn nạn xảy ra, mọi cá nhân trong phạm vi tinh hưởng đều được hưởng sự trợ giúp, không thể có sự phân biệt đó là người Việt Nam hay người nước ngoài để xác định quyền hoặc mức độ đảm bảo quyền trợ giúp của xã hội đối với mỗi cá nhân.

Tuy nhiên, các quan hệ pháp luật an sinh xã hội được thiết lập theo nhiều tầng nấc để tạo thành một hệ thống các quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau, đảm bảo an toàn ở những mức cần thiết hợp lý cho tất cả các thành viên xã hội theo từng nhóm. Vì vậy, những nhóm quan hệ nhỏ trong hệ thống các quan hệ pháp luật an sinh xã hội như bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội đã quy định những điều kiện nhất định đối với những người được thụ hưởng. Đó không phải là sự giới hạn phạm vi tham gia loại quan hệ pháp luật này mà chỉ để đảm bảo công bằng, trên cơ sở nhu cầu của đối tượng trong hoàn cảnh thực tế của họ hoặc sự đóng góp của nhóm đối tượng đó, phù hợp với trình độ quản lý rủi ro của Nhà nước.

Mỗi thành viên bất kỳ trong toàn xã hội đều có thể tham gia một hoặc một số các quan hệ cụ thể thuộc hệ thống quan hệ pháp luật an sinh xã hội, phụ thuộc vào điều kiện thực tế của họ được pháp luật xác định. Tất cả các thành viên trong xã hội, nếu có công với nước sẽ được hưởng chế độ ưu đãi xã hội, nếu tham gia bảo hiểm xã hội sẽ được đảm bảo thu nhập khi ốm đau, tai nạn… nếu gặp thiên tại, hoạn nạn sẽ được hưởng cứu trợ xã hội phù hợp với điều kiện đã được quy định… Ngay cả những người chưa được | hưởng bất cứ một chế độ nào thì cũng không có nghĩa là họ không được chính sách an sinh xã hội bảo vệ. 

Thứ ba, chủ thể hướng an sinh xã hội có quyền tham gia quan hệ pháp luật này ngay từ khi được sinh ra. 

Đặc điểm này do vấn đề an sinh xã hội là quyền của con người trong xã hội. Trước hết, nó là vấn đề đạo đức và nhân văn của xã hội loài người, không phụ thuộc vào sự cho phép của pháp luật hay việc thực hiện nghĩa vụ của các cá nhân thành viên. Khi các nhà nước muốn khẳng định vị trí đại diện chính thức và quản lý toàn xã hội thì phải có trách nhiệm giải quyết, quản lý các vấn đề mà bản thân đời sống con người trong xã hội đặt ra, trong đó có những rủi ro cho cuộc sống của các cá nhân thành viên hoặc của cả cộng đồng.

Để đảm bảo quyền hưởng an toàn về đời sống cho các công dân và các thành viên khác trong cộng đồng xã hội, Nhà nước thường cho phép các cá nhân sinh sống trong phạm vi lãnh thổ mà mình quản lý được tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội từ rất sớm, không phụ thuộc vào khả năng nhận thức hay sự đóng góp cho xã hội của họ. Nói cách khác, năng lực pháp luật hưởng an sinh xã hội của các cá nhân thường xuất hiện từ khi họ mới sinh ra, không phụ thuộc vào năng lực hành vi của họ. 

Đó cũng là đặc điểm riêng của quan hệ pháp luật an sinh xã hội nếu so với nhiều quan hệ pháp luật khác. 

Thứ tư, quan hệ pháp luật an sinh xã hội được thiết lập chủ yếu trên cơ sở nhu cầu quản lý rủi ro, tương trợ cộng đồng trong xã hội. 

Như trên đã phân tích, có nhiều quan hệ được thiết lập để chia sẻ rủi ro trong đời sống con người. Trong đó, có những quan hệ hình thành trên cơ sở tình cảm, đạo đức hoặc sự tự nguyện và lòng hảo tâm của cộng đồng xã hội; có những quan hệ kinh doanh, dịch vụ trên cơ sở đáp ứng nhu cầu chia sẻ rủi ra của các cá nhân trong xã hội. Riêng các quan hệ pháp luật an sinh xã hội hình thành trên cơ sở nhu cầu chung của xã hội, để quản lý và chia sẻ rủi ro cho cả cộng đồng, không phụ thuộc vào những quan hệ xã hội khác, không nhằm thực hiện những mục đích khác.

Trên cơ sở này, Nhà nước xác định những loại quan hệ xã hội do pháp luật an sinh xã hội điều chỉnh. Điều đó giải thích vì sao nhiều quan hệ mang tính chia sẻ rủi ro khác pháp luật an sinh xã hội không điều chỉnh song quan hệ bảo hiểm xã hội chủ yếu do người tham gia bảo hiểm đóng góp tài chính, có thực hiện cần đối thu chi lại vẫn thuộc hệ thống quan hệ pháp luật an sinh xã hội.

Thứ năm, quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các chủ thể là trợ giúp và được trợ giúp vật chất, do Nhà nước đảm bảo thực hiện. 

Do mục đích của quan hệ pháp luật an sinh xã hội là đảm bảo an toàn về đời sống dân sinh (theo nghĩa hẹp) cho con người nên nội dung chính của quan hệ này là vấn đề trợ giúp vật chất cho các thành viên xã hội trong những trường hợp cần thiết. Điều đó không có nghĩa là việc trợ giúp vật chất quan trọng hơn những lĩnh vực trợ giúp khác mà nó chỉ ra lĩnh vực đặc thù làm nên thuộc tính của quan hệ an sinh xã hội. Các lĩnh vực khác trong xã hội như giáo dục đào tạo, việc làm và thu nhập, đảm bảo điều kiện sống hoà bình cho người dân… cũng là những vấn đề rất quan trọng nhưng nó thuộc lĩnh vực bảo đảm xã hội nói chung.

Đời sống của con người gắn liền với vấn đề “cơm, áo, gạo, tiền” nên khi gặp khó khăn về kiếm sống như tuổi già, tàn tật, mất nguồn nuôi dưỡng, mất phương tiện sinh sống do thiên tai… thì xã hội phải trợ giúp cho thành viên của mình nguồn vật chất để đáp ứng nhu cầu thiết thực nhất đó. “Có thực mới vực được đạo” cũng là thực tế chung trong đời sống con người. Vì vậy, quyền và nghĩa vụ chủ yếu nhất của các bên trong quan hệ pháp luật an sinh xã hội được Nhà nước đảm bảo thực hiện là trợ giúp vật chất cho người cần trợ giúp. Chế độ trợ cấp vật chất cho người có đủ điều kiện luật định là nội dung chính, xuyên suốt các chế độ an sinh xã hội không chỉ ở pháp luật Việt Nam mà còn là nội dung pháp luật của tất cả các nước có điều chỉnh loại quan hệ này. 

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn được hiểu như thế nào?

Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn được hiểu như thế nào? Cùng chúng tôi tìm hiểu để có thêm thông tin giải đáp qua bài viết này...

Thời gian thử việc đối với trình độ đại học là bao lâu?

Thời gian thử việc đối với trình độ đại học là bao lâu? là thắc mắc được chúng tôi chia sẻ, làm rõ trong bài viết này. Mời Quý vị theo dõi, tham...

Hành vi nào được xem là tiết lộ bí mật kinh doanh?

Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh...

Ai có thẩm quyền ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động?

Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động là văn bản do người sử dụng lao động ban hành nhằm thông báo việc chấm dứt hợp đồng lao động với người lao...

Công ty có phải thông báo trước khi hợp đồng lao động hết thời hạn không?

Từ 1/1/2021, khi Bộ luật lao động 2019 có hiệu lực thi hành, công ty không phải thông báo với người lao động khi hợp đồng lao động hết thời...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi