• Thứ tư, 25/05/2022 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 806 Lượt xem

Địa điểm mở thừa kế

Địa điểm mở thừa kế là nơi để xác định Toà án nào có thẩm quyền giải quyết vụ thừa kế đó khi có tranh chấp xảy ra, là nơi thực hiện việc quản lý di sản, xác định cơ quan có thẩm quyền quản lý di sản của người chết trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý, kiểm kê di sản trong trường hợp cần thiết để ngăn chặn việc phân tán hoặc chiếm đoạt tài sản trong khối di sản.

Pháp luật hiện hành không quy định địa điểm mở thừa kế với góc độ là một khái niệm mà chỉ quy định về các căn cứ để xác định địa điểm mở thừa kế. Vậy căn cứ để xác định địa điểm mở thừa kế là gì? Khách hàng quan tâm vui lòng theo dõi nội dung bài viết dưới đây.

Địa điểm mở thừa kế là gì?

Pháp luật hiện hành không quy định địa điểm mở thừa kế, tuy nhiên, có thể hiểu địa điểm mở thừa kế là nơi thực hiện các thể thức liên quan đến việc dịch chuyển di sản của một người đã chết cho những người còn sống.

Nói một cách cụ thể thì địa điểm mở thừa kế là nơi để xác định Toà án nào có thẩm quyền giải quyết vụ thừa kế đó khi có tranh chấp xảy ra, là nơi thực hiện việc quản lý di sản, xác định cơ quan có thẩm quyền quản lý di sản của người chết trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý, kiểm kê di sản trong trường hợp cần thiết để ngăn chặn việc phân tán hoặc chiếm đoạt tài sản trong khối di sản.

Ngoài ra, địa điểm mở thừa kế còn là nơi thực hiện các thể thức liên quan đến di sản như khai báo, thống kê các tài sản thuộc di sản của người chết (dù tài sản được để lại ở nhiều nơi khác nhau nhưng đều phải khai báo, thống kê tại nơi có địa điểm mở thừa kế); việc từ chối nhận di sản của người thừa kế phải được thông báo cho cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế. Chính vì thế, khoản 2 Điều 633 BLDS 2005 đã đưa ra hai căn cứ cụ thể để xác định địa điểm mở thừa kế là: nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; hoặc là nơi có toàn bộ hay phần lớn di sản, trong đó, nơi có toàn bộ hay phần lớn di sản chỉ là căn cứ để xác định địa điểm mở thừa kế trong trường hợp không thể xác định được nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản. 

Căn cứ nào để xác định địa điểm mở thừa kế?

Thứ nhất: Xác định địa điểm mở thừa kế theo nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản 

Căn cứ đầu tiên và chủ yếu để xác định địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản. Tuy nhiên, thế nào là nơi cư trú và nơi nào được coi là nơi cư trú cuối cùng là các vấn đề mà hiện còn đang rất nhiều tranh cãi bởi quy định của pháp luật hiện hành còn chưa cụ thể, thậm chí còn bất cập. Vì vậy, chúng tôi bàn đến nơi cư trú và nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản với mong muốn có một cách hiệu thống nhất khi xác định địa điểm mở thừa kế theo căn cứ này. 

Trước hết, chúng tôi thấy rằng BLDS 1995 trước đây quy định về nơi cư trú của cá nhân cụ thể và phù hợp với thực tiễn hơn so với quy định của BLDS 2005 và Luật Cư trú hiện hành. 

Điều 48 BLDS 1995 đã quy định về nơi cư trú của cá nhân: 

1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống và có hộ khẩu thường trú. 

Trong trường hợp cá nhân không có hộ khẩu thường trú và không có nơi thường xuyên sinh sống thì nơi cư trú của người đó là nơi tạm trú và có đăng ký tạm trú.

2. Khi không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống, làm việc hoặc nơi có tài sản hoặc nơi có phần lớn tài sản, nếu tài sản của người đó có ở nhiều nơi.

3. Cá nhân có thể lựa chọn một nơi khác với nơi cư trú của mình để xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 

Theo quy định này, nơi cư trú của người để lại di sản được xác định theo nguyên tắc: 

+ Là nơi cá nhân có hộ khẩu thường trú. 

Để được đăng ký hộ khẩu thường trú, cá nhân phải có nơi ở hợp pháp và thường xuyên sinh sống tại nơi đó. Vì thế, đối với cá nhân đã có đăng ký hộ khẩu thường trú thì dù họ có sống tại nhiều nơi khác nhau vẫn phải xác định nơi cư trú của họ là nơi họ đã đăng ký hộ khẩu thường trú.

+ Là nơi người đó tạm trú và có đăng ký tạm trú. 

Nơi tạm trú và có đăng ký tạm trú chỉ được coi là nơi cư trú của cá nhân trong trường hợp cá nhân đó chưa đăng ký hộ khẩu thường trú ở bất kỳ nơi nào hoặc không thể xác định được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của họ.

+ Là nơi người đó đang sinh sống, làm việc hoặc nơi có tài sản. 

Nơi đang sinh sống hoặc nơi có tài sản của cá nhân chỉ được coi là nơi cư trú của họ trong trường hợp không xác định được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của họ và cũng không thể xác định được nơi họ đã đăng ký trạm trú. 

Như vậy, nếu căn cứ vào quy định của BLDS 1995, chúng ta dễ dàng xác định nơi cư trú của một cá nhân dù người đó có nhiều nơi sinh sống khác nhau và hầu như không có tranh cãi gì khi xác định địa điểm mở thừa kế theo nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản. Tuy nhiên, đến khi BLDS 2005 và Luật Cư trú 2006 được ban hành thì vấn đề này lại trở nên phức tạp vì luật hiện hành quy định khá chung chung, thậm chí hết sức mập mờ bởi Nơi cư trú được Điều 52 BLDS 2005 quy định như sau: 

“1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống.” 

| Đồng thời, được Luật Cư trú 2006 quy định tại Điều 12 như sau: 

“1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. 

Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. 

Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ôn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú. 

Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống”. 

Quy định về nơi cư trú của hai văn bản pháp luật hiện hành được nêu trên đã dẫn đến tình trạng là không thể xác định được nơi cư trú của một cá nhân và vì vậy, không thể xác định được địa điểm mở thừa kế của họ là ở đâu, mặc dù họ có đăng ký hộ khẩu thường trú.

Chẳng hạn, một người có hộ khẩu thường trú tại quận (huyện) X, sau đó họ đến quận Y đăng ký tạm trú (như.ví dụ đã nêu trước) thì nơi cư trú của họ là quận 2 hay quận Y và Tòa án nhân dân quận nào là cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về thừa kế đối với di sản của họ. 

 Sự lúng túng này xuất phát từ việc luật hiện hành quy định: Nơi cư trú là nơi cá nhân thường xuyên sinh sống nhưng chưa có văn bản nào giải thích về thuật ngữ thường xuyên sinh sống. Mặt khác, luật hiện hành còn quy định: Nơi cư trú là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú nhưng lại không xác định rõ căn cứ vào nơi nào trước để xác định nơi cư trú. 

Với tất cả phân tích trên, chúng tôi cho rằng dù luật hiện hành có quy định khác với quy định của BLDS 1995 về câu chữ, nhưng nhìn chung thì địa điểm mở thừa kế vẫn được xác định như sau: 

– Đối với cá nhân chỉ sống và chết tại một nơi cố định thì địa điểm mở thừa kế của người đó là nơi họ đã sống.

 – Đối với cá nhân đã đăng ký hộ khẩu thường trú ở một nơi nhưng đồng thời đã tạm trú ở nhiều nơi thì địa điểm mở thừa kế vẫn được xác định tại nơi người đó đã đăng ký hộ khẩu thường trú dù họ đã chết tại nơi đang tạm trú hoặc ở bất kỳ nơi nào. 

– Đối với cá nhân không có hộ khẩu thường trú ở nơi nào nhưng họ có nhiều nơi tạm trú khác nhau thì địa điểm mở thừa kế được xác định tại nơi họ đang tạm trú mà đã chết. 

– Đối với cá nhân đã từng đăng ký hộ khẩu thường trú ở nhiều nơi khác nhau thì địa điểm mở thừa kế được xác định tại nơi họ đang có hộ khẩu thường trú. 

Thứ hai:  Xác định địa điểm mở thừa kế theo nơi có tài sản của người chết 

Trong trường hợp không thể xác định được nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản thì địa điểm mở thừa kế được xác định theo nơi có tài sản của người chết.

Nếu dựa vào căn cứ này thì địa điểm mở thừa kế được xác định như sau: Nếu người chết chỉ để lại tài sản ở một nơi thì địa điểm mở thừa kế là nơi có tài sản của họ. Nếu người chết để lại tài sản ở nhiều nơi khác nhau thì địa điểm mở thừa kế được xác định tại nơi người đó để lại phần lớn tài sản của mình. 

Luật hiện hành không dự liệu đến trường hợp một người để lại tài sản ở nhiều nơi mà tài sản ở các nơi đều bằng nhau vì rất hiếm khi xảy ra trường hợp này. Tuy nhiên, nếu trong thực tế xảy ra trường hợp này thì địa điểm mở thừa kế được xác định theo nơi nào? Và Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết việc thừa kế khi có tranh chấp xảy ra?

Chúng tôi cho rằng, trong trường hợp này thì địa điểm mở thừa kế là nơi có tài sản của người chết”, còn việc xác định thẩm quyền của Tòa án khi có tranh chấp về thừa kể xảy ra thì tuân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo đó, Tòa án tại nơi có bất động sản sẽ giải quyết tranh chấp về thừa kế liên quan đến bất động sản đó, nếu tài sản thừa kế chỉ là các động sản thì thẩm quyền của Tòa án được xác định theo nơi cư trú của nguyên đơn hoặc bị đơn. 

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Mua nhà vi bằng có làm sổ hồng được không?

Vi bằng không có giá trị thay thế cho hợp đồng được công chứng, chứng thực. Việc mua nhà bằng cách lập vi bằng là không Đúng với quy định của pháp...

Vi bằng nhà đất có giá trị bao lâu?

Hiện nay, pháp luật không có quy định về thời hạn giá trị sử dụng của vi bằng. Tuy nhiên, bản chất khi lập vi bằng được hiểu lập là để ghi nhận sự kiện, hành vi có thật bởi chủ thể có thẩm quyền do Nhà nước quy định và được đăng ký tại Sở Tư...

Mua xe trả góp có cần bằng lái không?

Với hình thức mua xe trả góp, người mua có thể dễ dàng sở hữu một chiếc xe mà không cần có sẵn quá nhiều...

Không có giấy phép lái xe có đăng ký xe được không?

Theo quy định pháp luật hiện hành, người mua xe hoàn toàn có quyền thực hiện các thủ tục đăng ký xe máy và pháp luật cũng không quy định bất kỳ độ tuổi cụ thể nào mới có thể được đứng tên xe. Do vậy, Ngay cả khi bạn chưa có bằng lái, bạn vẫn có thể thực hiện đăng ký xe bình...

Phí công chứng hợp đồng thuê nhà hết bao nhiêu tiền?

Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì việc thuê nhà bắt buộc phải lập thành hợp đồng nhưng không bắt buộc phải công chứng, chứng thực trừ khi các bên có nhu...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi