Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là gì?
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Quy định về Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự
Điều 21 Bộ luật hình sự quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự như sau:
Tư vấn về Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự mới nhất
Điều luật mô tả tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và xác định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng như vậy không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Theo điều luật, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự đòi hỏi 2 dấu hiệu:
– Thứ nhất, người trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần.
– Thứ hai, người trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người không có năng lực nhận thức đòi hỏi của xã hội liên quan đến hành vi có tính gây thiệt hại cho xã hội đã thực hiện, là người không có năng lực đánh giá hành vi đã thực hiện là đúng hay sai, nên làm hay không nên làm. Và như vậy, họ cũng không thể có được năng lực kiềm chế thực hiện hành vi đó.
Người tong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự còn có thể là người tuy có năng lực nhận thức, tuy có khả năng đánh giá được tính chất xã hội của hành vi của mình nhưng do bệnh lý không thể kiềm chế được việc thực hiện hành vị đó.
Chỉ được coi là trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự khi đồng thời cả hai dấu hiệu này đều thoả mãn. Dấu hiệu thứ nhất và dấu hiệu thứ hai tuy có quan hệ với nhau (trong đó dấu hiệu thứ nhất là nguyên nhân và dấu hiệu thứ hai là kết quả) nhưng không có nghĩa đã mắc bệnh tâm thần là đều dẫn đến việc mất năng lực nhận thức hoặc mất năng lực điều khiển.
Năng lực này có mất hay không không chỉ phụ thuộc vào loại bệnh mà còn phụ thuộc vào mức độ bệnh và vào tính chất của hành vi đã thực hiện. Có loại bệnh tâm thần luôn luôn làm mất năng lực trách nhiệm hình sự, có loại bệnh chỉ làm mất năng lực này khi bệnh ở mức độ nhất định và có loại bệnh hoàn toàn không làm mất năng lực này.
Việc xác định hai dấu hiệu này đều thuộc nội dung của giám định tâm thần tư pháp. Kết luận giám định tâm thần tư pháp không chỉ xác định người thực hiện hành vi có tính chất gây thiệt hại cho xã hội có mắc bệnh tâm thần và có trong trạng thái bệnh khi thực hiện hành vi đó hay không mà còn xác định ảnh hưởng của bệnh dã mắc (nếu có) đối với năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của người bệnh.
BÀI VIẾT MỚI NHẤT
Tội trộm cắp tài sản 2025 bị xử phạt như thế nào?
Trộm cắp tài sản, được hiểu là hành vi lén lút, bí mật chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của...
Tội che giấu tội phạm là gì? Tư vấn Tội che giấu tội phạm?
Che giấu tội phạm, được hiểu là hành vi che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội mà không có sự hứa hẹn...
Cách tính thời hạn theo Bộ luật tố tụng hình sự mới nhất
Trong tố tụng hình sự, thời hạn là một chế định rất quan trọng. Quy định thời hạn một cách hợp lí sẽ bảo đảm cho hoạt động tố tụng được tiến hành nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài sản và công sức của Nhà nước và những người tham gia tố tụng khác, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công...
Biển thủ là hành vi gian dối biến tài sản công thành tài sản riêng. Người biển thủ tài sản là người có quyền hạn, trách nhiệm đối với việc quản lý tài sản bị biển thủ. Hành vi biển thủ là hành vi bị pháp luật cấm vì xâm hại tài sản công, lợi ích...
Đào ngũ là gì? Đào ngũ bị phạt như thế nào?
Đào ngũ được xem là hành vi người nào rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ trong thời chiến hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm...
Xem thêm