Trang chủ » Hình sự » Hỏi đáp luật hình sự » Trường hợp nào được miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội?

Trường hợp nào được miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội?

(Cập nhật: 22/10/2018 | 12:30)

Em và bạn trai (17 tuổi) đang đi chơi trong công viên thì người yêu cũ của em đến trêu ghẹo, bạn trai em đã cầm gạch đánh người này đẫn đến thương tích 15%. Mặc dù, bạn trai em đã thành khẩn khai báo, bồi thường thương tích, khắc phục hậu quả nhưng Tòa án nhân dân quận X lại quyết định hình phạt đối với Minh là phạt tù 1 năm. Việc xử lý của Tòa án nhân dân quận X như vậy có đúng không

Câu hỏi:

Em là Nguyễn My, xin Luật sư tư vấn giúp em trường hợp sau: Ngày 24/11/2016, em và bạn trai em là anh Minh (17 tuổi) đang đi chơi ở công viên thì tình cờ gặp Hoàng (20 tuổi, vốn là bạn trai cũ của em). Hoàng nhìn thấy em đi chơi với Minh thì đi qua trêu ghẹo. Bực tức vì hành động của Hoàng, anh Minh đã tiến tới và dùng gạch đập vào ngực Hoàng làm Hoàng bị đau, tức ngực và ngất tại chỗ. Hoàng đươc đưa đi bệnh viện và kết quả giám định thương tật là 15%. Sau đó, anh Minh đã bị khởi tố, điều tra, truy tố và được đưa ra xét xử. Mặc dù, bạn trai em đã thành khẩn khai báo, bồi thường thương tích, khắc phục hậu quả nhưng Tòa án nhân dân quận X lại quyết định hình phạt đối với Minh là phạt tù 1 năm. Xin hỏi Luật sư, việc xử lý của Tòa án nhân dân quận X như vậy có đúng không? Em xin cảm ơn!

Trả lời:

Với câu hỏi của bạn Luật Hoàng Phi xin trả lời như sau:

Trước hết, bạn trai của bạn (tức Minh) năm nay mới 17 tuổi nên vệc xử lý đối với Minh phải theo nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 91 bộ Luật Hình sự 2015 như sau:

Điều 91. Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

1. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

2. Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này;

b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này;

c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án.

3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

4. Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.

5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

6. Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.

Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

7. Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.”

Trường hợp nào được miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội?

Trường hợp nào được miễn trách nhiệm hình sự với người chưa thành niên phạm tội?

Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.”

Có thể thấy, Minh đã có hành vi dung hung khí là viên gạch đập vào ngực Hoàng làm Hoàng bị đau, tức ngực và ngất tại chỗ. Kết quả Hoàng đươc đưa đi bệnh viện và kết quả giám định thương tật là 15%. Do vậy, hành vi này cấu thành tội cố ý gây thương tích được quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015. Minh năm nay 17 tuổi nên phải chịu trách nhiệm Hình sự ( Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hìn sự 2015 quy định “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác” ).

Xét thấy, bạn trai bạn đã thành khẩn khai báo, bồi thường thương tích, khắc phục hậu quả, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 29 Bộ luật này nhưng chỉ được miễn trách nhiệm hình sự khi thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 91 như đã nêu trên. Minh phạm tội cố ý gây thương tích quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, độ tuổi là 17 nên theo Điểm a, Khoản 2 Điều 91 thì sẽ không được miễn trách nhiệm hình sự. Do đó, việc xử lý của Tòa án nhân dân quận X  là đúng quy định của pháp luật.

Trong trường hợp cần tư vấn pháp luật hình sự, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI  TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.