Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Tư vấn Luật Hình sự Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả theo quy định Bộ luật hình sự
  • Thứ ba, 29/08/2023 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 2281 Lượt xem

Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả theo quy định Bộ luật hình sự

Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả là hành vi sản suất, in ấn, chế tạo hoặc mua bán các loại tem giả, vé giả. Tùy thuộc vào hành vi vi phạm thì mức xử phạt sẽ là khác nhau.

Hành vi buôn buôn bán tem giả, vé giả có ảnh hưởng rất rất lớn đến việc phát hành và sử dụng tem giả, vé giả, vậy Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả theo quy định Bộ luật hình sự được quy định ra sao, bài viết sau sẽ giải đáp vấn đề này.

Tội làm buôn bán tem giả, vé giả là gì?

Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả là hành vi sản suất, in ấn, chế tạo hoặc mua bán các loại tem giả, vé giả.

Tư vấn về Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả theo quy định Bộ luật hình sự

Câu hỏi:

Kính gửi Luật Hoàng Phi, tôi có câu hỏi sau nhờ luật sư tư vấn giúp: Người đã bị xử phạt hành chính về hành vi làm tem giả, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính và chưa bị kết án về tội này, lại buôn bán tem giả thì có bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” không? Người này có phạm tội buôn bán tem giả không?

Trả lời:

Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ Mục 6 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP quy định như sau:

6.1 Đối với các tội mà điều luật có quy định tình tiết đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm và đã được hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền thì thực hiện theo đúng hướng dẫn của các ván bản đó

6.2 Đối với các tội mà điều luật có quy định tình tiết “đã bị xử phạt hành chính vê hành vi này mà còn vi phạm” nhưng chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền thì phân biệt như sau:

a) Đối với điều luật quy định một tội (tội đơn) thì đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm là trước đó một người đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong tội đó bằng một trong các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong tội đó.

Ví dụ: A đã bị xử phạt hành chính về hành vi đặt chướng ngại vật trên đường sắt để cản trở giao thông đường sắt, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính, A lại thực hiện một trong các hành vi (đặt chướng ngại vật trên đường sắt; làm xê dịch ray, cà vẹt; khoan, đào, xẻ trái phép nền đường sắt, mở đường trái phép qua đường sắt…) quy định tại Điều 268 của Bộ luật Hình sự để cản trở giao thông đường sắt.

Đối với điều luật quy định nhiều tội khác nhau (tội ghép) thìđã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm là trước đó một người đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong một tội tại điều luật đó bằng một trong các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong tội dó (không bao gồm các hành vi được liệt kê trong tội khác cũng tại điểu luật đó).

Ví dụ: Điều 202 của Bộ luật Hình sự quy định tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả. Trường hợp B đã bị xử phạt hành chính về hành vi làm tem giả, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính, B lại làm vé giả thì bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”; nếu B chỉ buôn bán tem, vé giả thì không coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.

Thứ nhất: Cấu thành tội làm, buôn bán tem giả, vé giả

Khách thể của tội phạm: Tội phạm buôn bán tem giả, vé giả xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại tem, vé lưu thông trên thị trường.

Đối tượng tác động của tội phạm là các loại tem giả, vé giả (các loại tem, vé không phải do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phát hành)

Mặt khách quan của tội phạm: Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả được thực hiện ở một trong các hành vi sau:

Làm tem giả, vé giả là hành vi tạo ra tem giả, vé giả hoàn toàn hoặc sửa lại nội dung của tem, vé thật hết giá trị. Người phạm tội có thẻ tham gia vào toàn bộ quá trình hoặc tham gia ở từng công đoạn: tìm các mẫu tem, vé có giá trị cần làm giả, sau đó tìm cách tạo ra các bản in, tìm mua giấy (nếu vé làm bằng giấy đặc biệt), mực in; tìm địa điểm, tìm nơi tiêu thụ, v.v..

– Buôn bán tem giả, vé giả là hành vi mua đi bán lại đề kiếm lời các loại tem, vé mà biết rõ đó là giả. Người phạm tội có thẻ tham gia vào toàn bộ quá trình hoặc tham gia ở từng công đoạn như tìm nguồn tem, vé giả, nơi tiêu thụ, v.v..

Các hành vi trên cấu thành tội phạm này, nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

– Tem giả, vé giả không có mệnh giá có số lượng từ 15.000 đến dưới 30.000 đơn vị

– Tem giả, vé giả có mệnh giá có tổng giá trị từ 50.000.000 đến dưới 200.000.000 đồng

– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

– Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng

Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội làm, buôn bán tem giả, vé giả là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt khách quan của tội phạm: Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Thứ hai: Khung hình phạt Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả

Khung hình phạt tội làm, buôn bán tem giả, vé giả được quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự cụ thể như sau:

Điều 202. Tội làmbuôn bán tem giả, vé giả

1. Người nào làm, buôn bán các loại tem giả, vé giả thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Tem giả, vé giả không có mệnh giá có số lượng từ 15.000 đến dưới 30.000 đơn vị;

b) Tem giả, vé giả có mệnh giá có tổng trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

c) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

d) Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Tem giả, vé giả không có mệnh giá có số lượng 30.000 đơn vị trở lên;

d) Tem giả, vé giả có mệnh giá có tổng trị giá 200.000.000 đồng trở lên;

đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Đánh giá bài viết:
5/5 - (1 bình chọn)

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Thời hạn điều tra vụ án hình sự là bao lâu?

Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều...

Dùng dao đâm chết người đi tù bao nhiêu năm?

Trong trường hợp cụ thể, người dùng dao đâm chết người có thể bị truy cứu về một trong các tội khác như: Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ, Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, Tội vô...

Vay tiền mà không trả phạm tội gì?

Trong nội dung bài viết này, chúng tôi sẽ có những chia sẻ giúp Quý vị làm rõ: Vay tiền mà không trả phạm tội gì? Mời Quý vị tham...

Đã có đơn bãi nại thì người gây nạn giao thông có phải đi tù không?

Đơn bãi là là yêu cầu rút lại yêu cầu khởi tố của người bị hại, Vậy Đã có đơn bãi nại thì người gây nạn giao thông có phải đi tù...

Đi khỏi nơi cư trú khi bị cấm đi khỏi nơi cư trú bị xử lý như thế nào?

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi