Tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo Điều 53 Bộ luật Hình sự
Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
Tái phạm là gì? Tái phạm nguy hiểm là gì?
Điều 53 Bộ luật hình sự quy định về Tái phạm, tái phạm nguy hiểm như sau:
1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý,
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
Bình luận về Tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo Bộ luật hình sự mới nhất
Điều luật xác định dấu hiệu của trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.
Theo khoản 1 Điều 53 BLHS tái phạm là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý hoặc do vô ý về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong thời gian chưa được xóa án tích về tội phạm trước đã bị kết án.
Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm có tính nguy hiểm cao hơn người phạm tội thuộc trường hợp phạm tội lần đầu vì họ đã bị kết án nhưng phạm tội lại trong thời gian chưa được xóa án tích về tội đã bị kết án. Cụ thể, người phạm tội bị coi là tái phạm khi có đủ các điều kiện sau:
– Người phạm tội đã bị kết án và đang có án tích. Ở đây cần chú ý: Không phải tất cả những người đã bị kết án đều bị coi là có án tích. Các trường hợp đã bị kết án nhưng không bị coi là có án tích được quy định tại khoản 2 Điều 69 BLHS và tại khoản 1 Điều 107 BLHS (đối với người bị kết án dưới 18 tuổi). Như vậy, người đã bị kết án mà không thuộc các trường hợp này mới bị coi là có án tích. Tuy nhiên, án tích sẽ được xóa theo quy định tại các điều từ Điều 69 (khoản 1) đến Điều 73 và Điều 107 (khoản 2) BLHS. Theo đó, điều kiện thứ nhất của tái phạm: Người phạm tội đã bị kết án và thuộc trường hợp có án tích (án tích này chưa được xóa);
– Điều kiện thứ hai: Người đang có án tích đã phạm tội mới và tội phạm đó là tội phạm do cố ý hoặc tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
Các trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS. Theo đó, tái phạm nguy hiểm là trường hợp đặc biệt của tái phạm. Tái phạm nguy hiểm có tính nguy hiểm cao hơn trường hợp tái phạm. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 53 BLHS, tái phạm nguy hiểm gồm hai trường hợp:
– Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.
– Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện tội phạm do cố ý.
BÀI VIẾT MỚI NHẤT
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
Không truy cứu trách nhiệta hình sự người có tội, được hiểu là hành vi của người tiến hành tố tụng có thẩm quyền (trong tố tụng hình sự), mặc dù đã có đủ căn cứ và biết rõ một người đã có hành vi phạm tội nhưng không tiến hành khởi tố, truy tố hoặc xét xử buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội...
Phân tích Điều 348 Bộ luật Hình sự 2015
Điều 348 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép. Luật Hoàng Phi phân tích về tội phạm này trong nội dung bài...
Những trường hợp nào không áp dụng thời hiệu thi hành bản án?
Điều luật quy định các tội phạm quy định tại Chương XI – các tội xâm phạm an ninh quốc gia và Chương XXIV – các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh thì không áp dụng thời hiệu thi hành bản...
Khi nào người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự?
Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây: Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; Khi có quyết định đại...
Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu khi nào?
Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây...
Xem thêm