• Thứ sáu, 10/05/2024 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 2621 Lượt xem

Nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Xin hỏi luật sư của công ty một vấn đề: Pháp luật có quy định về nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nếu có thì nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như thế nào?

Câu hỏi:

Tôi tên là Nguyễn Huy Hoàng, xin hỏi luật sư của công ty một vấn đề: Pháp luật có quy định về nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nếu có thì nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như thế nào? Xin cảm ơn!

Trả lời:

Với câu hỏi của anh, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Theo quy định Điều 98 Luật đất đai 2013 về nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp theo từng thửa đất. Trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng một xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì được cấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chung cho các thửa đất đó.

+ Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện.

+ Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất không thuộc đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được miễn, được ghi nợ nghĩa vụ tài chính và trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền cấp.

+ Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.

Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.

+ Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có.

Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 99 của Luật này.

Như vậy, pháp luật đất đai hiện hành có quy định về nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể được quy định tại Điều 98 Luật Đất đai 2013.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm: Nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Anh có thể liên hệ với Luật sư của Công ty Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất

Ông Thành được giao 10 héc ta đất rừng phòng hộ, nay ông Thanh muốn chuyển nhượng diện tích rừng đó cho công ty An Phú có được...

Phân chia di sản thừa kế là bất động sản như thế nào?

Gia đình tôi hiện đang sinh sống trên diện tích đất nhà vườn ở thành phố Huế. Bố tôi được ông nội cho một phần đất, sau khi ông mất thì anh em của bố tôi có về để phân chia di sản. Tôi có vài vấn đề muốn được luật sư tư vấn như...

Tặng cho quyền sử dụng đất

Luật sư tư vấn giúp tôi, mảnh đất của vợ chồng nhưng đứng tên vợ và người vợ muốn sang tên cho con thì có cần sự đồng ý của người còn lại không? Xin cảm ơn Luật...

Nhóm đất nông nghiệp là gì?

Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu gồm nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng, như vậy, khái niệm đất nông nghiệp đã được mở rộng với tên gọi là “nhóm đất nông nghiệp” thay cho “đất nông nghiệp” như trước...

Đòi lại đất đã cho mượn như thế nào?

Năm 2002, Nhà nước tiến hành chia lại ruộng đất, nhà tôi được chia cho 450m2 hoa màu, diện tích đất này trước đây thuộc thửa đất của bà A . Với thửa đất được chia gia đình tôi đã làm thủ tục và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, gia đình tôi không sử dụng thửa đất này mà để cho bà A dùng, khi nào cần sẽ lấy lại. Cho đến năm 2015, gia đình tôi muốn...

Xem thêm

0981.378.999
Online