Luật Hoàng Phi Tìm hiểu pháp Luật Bảo hiểm y tế Nghỉ trên 14 ngày có phải đóng BHYT không?

Nghỉ trên 14 ngày có phải đóng BHYT không?

Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng BHXH.

Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày một tăng lên, đặc biệt là nhu cầu về chăm sóc sức khỏe. Do đó, ngày nay vấn đề về bảo hiểm y tế luôn thu hút sự quan tâm của xã hội. Nhiều câu hỏi băn khoăn của người dân về BHYT luôn được đặt ra, một trong số đó là việc người lao động nghỉ trên 14 ngày có phải đóng BHYT không?

Nghỉ trên 14 ngày có phải đóng BHYT không?

Theo quy định tại Khoản 4, 5 và 6 Điều 42 Quyết định 595/QĐ-BHXH ban hành quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp; quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế ngày 14/4/2017 quy định:

“ 4. Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng BHXH.

5. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về BHXH thì không phải đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN nhưng vẫn được hưởng quyền lợi BHYT.

6. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì đơn vị và người lao động không phải đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, thời gian này được tính là thời gian đóng BHXH, không được tính là thời gian đóng BHTN và được cơ quan BHXH đóng BHYT cho người lao động.”

Như vậy, theo quy định trên với câu hỏi nghỉ trên 14 ngày có phải đóng BHYT không sẽ tùy vào các sẽ có các trường hợp như sau:

Thứ nhất: Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng. Theo quy định trịnh dẫn trên đây, pháp luật chỉ quy định không đóng BHXH. Tuy vậy, cần lưu ý, khi người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, người sử dụng lao động thực hiện báo giảm nghỉ không hưởng lương đối với người lao động. Theo đó, cơ quan BHXH giảm giá trị sử dụng của thẻ BHYT của người lao động.

Lưu ý về trường hợp nghỉ ốm đau, thai sản:

– Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng BHYT, nhưng NLĐ vẫn được hưởng BHYT

Trường hợp không may bị ốm đau, bệnh tật, theo Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội, người lao động được nghỉ chế độ ốm đau:

“ 30 ngày nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm;

40 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 – 30 năm;

60 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên.

Trường hợp làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được nghỉ thêm 10 ngày tương ứng với từng trường hợp nêu trên.

Ngoài ra, người lao động còn được nghỉ trên 180 ngày nếu mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày.”

– Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người lao động và người sử dụng lao động:Không phải đóng BHYT, mà cơ quan BHXH sẽ đóng BHYT cho NLĐ.

Đối với trường hợp nghỉ thai sản, số ngày nghỉ của người lao động sẽ khác nhau. Cụ thể:

“ Nghỉ khám thai: Tối đa 10 ngày

Nghỉ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý: Tối đa 50 ngày

Nghỉ sinh con: Ít nhất 04 tháng với lao động nữ; tối đa 14 ngày với lao động nam;

Nghỉ khi thực hiện biện pháp tránh thai: Tối đa 15 ngày.”

Thứ hai: Người lao động nghỉ việc từ 14 ngày trở lên trong tháng nhưng số ngày nghỉ không hưởng lương (tính trên số ngày làm việc) không đến 14 ngày, người lao động và công ty vẫn thực hiện đóng các loại bảo hiểm, trong đó có BHYT bình thường.

Thực tế, người lao động trong tháng nghỉ từ 14 ngày trở lên nhưng số ngày nghỉ tính trên ngày làm việc không đến 14 ngày. Trường hợp ngày vẫn thực hiện đóng các chế độ bảo hiểm bình thường.

Ví dụ: Chị M xin nghỉ hai tuần (14 ngày) tại công ty L do gia đình có việc riêng. Trong thời gian nghỉ hai tuần này có hai ngày nghỉ hàng tuần theo lịch làm việc của công ty và hợp đồng lao động. Như vậy, số ngày nghỉ không hưởng lương của chị M thực tế là 12 ngày. Theo đó, số ngày làm việc nghỉ không hưởng lương của chị M chưa đến 14 ngày, công ty và chị M vẫn tham gia bảo hiểm bình thường.

Mặt khác, có những trường hợp người lao động nghỉ nhưng vẫn được hưởng lương như nghỉ lễ, tết theo Điều 98 Bộ luật lao động, ngừng việc không do lỗi của người lao động theo khoản 1, khoản 3 Điều 99 Bộ luật lao động, nghỉ hằng năm theo Điều 113 Bộ luật lao động,… Do đó có thể xảy ra trường hợp người lao động nghỉ từ 14 ngày trở lên nhưng số ngày nghỉ không hưởng lương (tính trên số ngày làm việc) không đến 14 ngày. Trường hợp này, người lao động và người sử dụng lao động thực hiện đóng BHYT bình thường.

Ví dụ: Anh A làm việc cho công ty X. Công ty X cho phép nghỉ dồn ngày nghỉ phép năm trong tháng không quá 10 ngày. Tháng 12/ 2021, anh A có chuyến du lịch nước ngoài với gia đình nên sử dụng 10 ngày phép còn lại trong năm của mình, đồng thời xin nghỉ không hưởng lương 5 ngày làm việc. Tổng số ngày nghỉ tính trên ngày làm việc trong tháng của anh A là 15 ngày, tuy nhiên, trong đó có 10 ngày là ngày nghỉ hằng năm có hưởng lương theo Điều 113 Bộ luật lao động, chỉ có 5 ngày làm việc nghỉ không hưởng lương. Anh A vẫn được đóng các loại bảo hiểm, trong đó có BHYT bình thường.

Mức đóng bảo hiểm y tế?

Điều 7 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2018 của Chỉnh phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế thì mức đóng bảo hiểm y tế hàng tháng của các đối tượng như sau:

1. Mức đóng bảo hiểm y tế hằng tháng của các đối tượng được quy định như sau:

a) Bằng 4,5% tiền lương tháng của người lao động đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này.

– Người lao động trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì không phải đóng bảo him y tế nhưng vẫn được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế;

– Người lao động trong thời gian bị tạm giam, tạm giữ hoặc tạm đình chỉ công tác để điều tra, xem xét kết luận có vi phạm hay không vi phạm pháp luật thì mức đóng hằng tháng bằng 4,5% của 50% mức tiền lương tháng của người lao động. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền kết luận là không vi phạm pháp luật, người lao động phải truy đóng bảo hiểm y tế trên số tiền lương được truy lĩnh;

b) Bằng 4,5% tiền lương hưu, trợ cấp mất sức lao động đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định này;

c) Bằng 4,5% tiền lương tháng của người lao động trước khi nghỉ thai sản đối với đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị định này;

d) Bằng 4,5% tiền trợ cấp thất nghiệp đối với đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 2 Nghị định này;

đ) Bằng 4,5% mức lương cơ sở đối với các đối tượng khác;

e) Mức đóng bảo hiểm y tế của đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này như sau: Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất.

Việc giảm trừ mức đóng bảo hiểm y tế theo quy định tại điểm này được thực hiện khi các thành viên tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình cùng tham gia trong năm tài chính.

2. Đối với đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng thì không áp dụng giảm trừ mức đóng theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều này.

Trên đây là những nội dung mà Luật Hoàng Phi muốn chi sẻ đến bạn đọc liên quan đến câu hỏi nghỉ trên 14 ngày có phải đóng BHYT không. Cần tư vấn hoặc hỗ trợ thêm,bạn đọc vui lòng liên hệ đến tổng đài 1900 6557 để được tư vấn trực tiếp. Xin cảm ơn!

Đánh giá bài viết:
4.8/5 - (2506 bình chọn)

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Thủ tục cấp lại thẻ bảo hiểm y tế bị mất như thế nào?

Em bị mất thẻ bảo hiểm, vậy em có được cấp lại thẻ không? trình tự cấp lại như thế nào? Mong Luật sư tư vấn giúp, em cảm...

Mức hưởng bảo hiểm y tế năm 2022 như thế nào?

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN MỨC HƯỞNG BẢO HIỂM Y TẾ 19006557 tư vấn về mức hưởng bảo hiểm y tế để khách hàng tham khảo. Trong trường hợp cần tư vấn về các vấn đề liên quan, khách hàng vui lòng liên hệ với TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900 6557 để được tư vấn cụ thể, chi tiết, chính...

Mức hưởng bảo hiểm y tế trái tuyến năm 2022

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN BẢO HIỂM TRÁI TUYẾN 19006557 tư vấn về Mức đóng bảo hiểm y tế trái tuyến để khách hàng tham khảo. Trong trường hợp cần tư vấn về các vấn đề liên quan đến bảo hiểm trái tuyến, khách hàng vui lòng liên hệ với TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900 6557 để được tư...

Không có giấy chuyển viện có được hưởng bảo hiểm y tế không?

Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước: Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người được người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ủy quyền ký giấy chuyển...

Khám ngoại trú trái tuyến có được hưởng BHYT?

Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công...

Khám bệnh vượt tuyến có được tính bảo hiểm không?

Dựa vào các quy định của pháp luật thì khám bệnh vượt tuyến vẫn có thể được tính bảo hiểm, tức là vẫn có thể được quỹ bảo hiểm chi trả, tuy nhiên mức chi trả còn tùy thuộc vào những trường hợp cụ...

Mức hưởng bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi

Trường hợp cấp cứu, người tham gia bảo hiểm y tế được đến khám, chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở khám, chữa bệnh nào. Khi hết giai đoạn cấp cứu, người bệnh được cơ sở khám, chữa bệnh làm thủ tục chuyển đến khoa, phòng điều trị khác tại cùng cơ sở để tiếp tục theo dõi, điều trị hoặc chuyển tuyến đến cơ sở khám, chữa bệnh khác thì được xác định là khám, chữa bệnh...

Khám bệnh trái tuyến có được hưởng bảo hiểm y tế không?

Bảo hiểm y tế sẽ hỗ trợ người tham gia toàn bộ hoặc phần nào đó chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đi đúng tuyến hay trái tuyến, những dịch vụ y tế, vật tư kỹ...

Tổng Đài Tư Vấn Bảo Hiểm Y Tế Miễn Phí Toàn Quốc

Tổng đài tư vấn bảo hiểm y tế là số 19006557, khi có nhu cầu tư vấn và giải đáp các thắc mắc liên quan đến bảo hiểm y tế khách hàng vui lòng gọi tới số tổng đài để được hỗ trợ và tư...

Tư vấn thủ tục cấp đổi, cấp lại Thẻ bảo hiểm y tế năm 2022

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ 1900 6557 cập nhật và tư vấn các quy định mới nhất về thủ tục cấp lại, đổi thẻ bảo hiểm y tế để Quý khách tham khảo và sử...

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC

Thua cá độ bóng đá không trả tiền có được không?

Người có hành vi thực hiện cá độ bóng đá sẽ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo từng trường hợp cụ...

Một cá nhân có được thành lập nhiều hộ kinh doanh không?

Trong nội dung bài viết này chúng tôi sẽ hỗ trợ tư vấn trả lời câu hỏi: Một cá nhân có được thành lập nhiều hộ kinh doanh...

Án treo có được đi làm ở tỉnh khác không?

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt...

Bị bắt về tội đánh bạc có được hưởng án treo không?

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt...

Đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép thành lập, hoạt động kinh doanh chứng khoán

Đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép thành lập, hoạt động kinh doanh chứng khoán như thế nào? Cùng tìm hiểu qua bài viết này...

Tài xỉu trong bóng đá là gì? Chơi tài xỉu có phải cá độ không?

Tài xỉu trong bóng đá là kiểu cá độ bóng đá phổ biến trong đó người chơi sẽ chọn một con số về thông số nhất định trong một trận bóng mà nhà cái đưa ra như tổng số bàn thắng, tổng số thẻ, tổng số quả ném biên….trong tài xỉu bóng đá, thì mọi người thường chơi Tài Xỉu trên tổng số bàn thắng của một trận...

Án treo có phải là tiền án không?

Người được hưởng án treo và chưa được xóa án tích thì vẫn xem là có tiền án, vì mặc dù không phải chấp hành hình phạt tù nhưng người hưởng án treo cũng đã bị tuyên án là phạm...

Liên hệ với Luật Hoàng Phi