• Thứ tư, 25/05/2022 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 5965 Lượt xem

Khái niệm vật tiêu hao và vật không tiêu hao

Vật không tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu theo khoản 2 Điều 112 Bộ luật dân sự năm 2015.

Vật tiêu hao là gì?

Vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu theo khoản 1 Điều 112 Bộ luật dân sự năm 2015.

Vật tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng cho mượn.

Vật không tiêu hao là gì?

Vật không tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu theo khoản 2 Điều 112 Bộ luật dân sự năm 2015.

Quy định pháp luật về vật tiêu hao và vật không tiêu hao

Trong quan hệ xã hội giữa người với người luôn luôn có sự chuyển giao vật (tài sản) thông qua các giao dịch dân sự. Tính chất của vật là căn cứ để xác định phương thức chuyển giao vật giữa các chủ thể. Vì vậy, việc xác định tính chất của vật rất quan trọng trong các quan hệ có đối tượng là vật.

Xác định tính chất của vật để lựa chọn các quan hệ cho phù hợp, tránh được những rủi ro và những tranh chấp có thể phát sinh giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự và trong tố tụng dân sự.

Vật không tiêu hao là vật qua sử dụng một lần hoặc nhiều lần vẫn giữ nguyên được tính chất, tính năng và giá trị sử dụng ban đầu. Vì vậy, vật không tiêu hao có thể là đối tượng của các hợp đồng cho thuê, cho mượn tài sản. Ví vụ, nhà ở, các phương tiện cơ giới là vật không tiêu hao, là đối tượng của các hợp đồng cho thuê, cho mượn tài sản.

Trong quan hệ thuê, mượn tài sản, bên thuê, mượn sử dụng vật đúng tính năng, công dụng của vật trong thời hạn thuê, mượn hoặc mục đích thuê, mượn đã đạt được thì bên thuê, mượn có nghĩa vụ trả lại vật thuê cho chủ sở hữu hoặc cho bên có quyền cho thuê.

Ngoài ra, vật không tiêu hao còn có thể là một vật chứng để chứng minh trong một vụ án hình sự hay dân sự để kết tội hoặc bảo vệ lợi ích của bên có quyền. Vật không tiêu hao còn là điều kiện để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp tài sản có quyền yêu cầu người đang chiếm hữu vật có nghĩa vụ trả lại tài sản theo phương thức kiện dân sự đòi lại tài sản.

Vật tiêu hao là vật qua một lần sử dụng không còn giữ nguyên được tính chất, khối lượng, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu. Vì vậy, vật tiêu hao không thể dùng làm đối tượng của hợp đồng cho thuê, cho mượn tài sản. Vì nghĩa vụ của bên thuê, mượn tài sản phải trả lại tài sản thuế khi đến hạn hoặc mục đích thuê, mượn đã đạt được và phải trả lại vật thuê, mượn. Nếu vật tiêu hao thì không thể trả lại sau khi bên thuê sử dụng. Vì vậy, khoản 1 Điều 112 BLDS quy định về vật tiêu hao và tính chất của vật tiêu hao.

Điều 211 quy định về vật không tiêu hao, vật không tiêu hao với ý nghĩa là cảm nhận trực quan về hình thức của vật, mà chưa quy định về vật tiêu hao về bản chất thông qua công nghệ, kỹ thuật hay kinh nghiệm lao động, sản xuất. Trong xây dựng, người ta sử dụng các vật liệu xây dựng như xi măng, cát, sỏi, nước, sắt, vôi… để dựng lên một vật kiến trúc như ngôi nhà, cầu, cảng… thì các vật này trộn lẫn vào nhau tạo thành vật kiến trúc, các vật đã qua sử dụng cũng không giữ nguyên được hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng ban đầu. Sự kiện sử dụng vật trong trường hợp này cũng xác định các vật liệu xây dựng qua sử dụng cũng là vật tiêu hao về bản chất hóa – lý.

Như vậy, việc xác định vật tiêu hao hay vật không tiêu hao rất quan trọng trong quan hệ pháp luật về tài sản. Chủ sở hữu của vật tiêu hao không thể kiện đòi lại vật, khi chủ thể khác đã chiếm hữu sử dụng vật tiêu hao của mình. Trong trường hợp này, chủ sở hữu chỉ có thể kiện đòi bồi thường thiệt hại về tài sản.

Vật tồn tại khách quan ở một trong ba trạng thái là rắn, lỏng và khí. Vì vậy, vật tồn tại ở thể lỏng, thể khí là vật tiêu hao sau một lần sử dụng. Thể lỏng như nước. Thể khí như ga, bình khí như ôxy sử dụng trong y học và trong công nghiệp là những vật tiêu hao.

Đối với thể lỏng là nước, có thể sau một lần hoặc nhiều lần sử dụng thì dung tích nước trong chậu, trong bình vẫn không hao hụt về hình thức, nhưng nước dùng để rửa các vật dụng hoặc vệ sinh tay, chân… đã không còn giữ nguyên được bản chất của nước ban đầu, trước khi chưa sử dụng.

Có một loại tài sản chưa được quy định trong BLDS của Việt Nam là điện. Xét về mặt vật lý, điện là một dạng của vật chất gắn liền với tương tác điện điện từ, là một trong các loại tương tác cơ bản khác của vũ trụ, thể hiện bằng các tích. Điện có hai loại âm và dương, chúng có tính lượng tử với giá trị cơ bản.

Khái niệm về điện được hiểu là năng lượng điện, là một loại tài sản được sử dụng trong sinh hoạt, trong sản xuất…, điện là năng lượng được sử dụng rộng rãi, phổ biến, tiện ích trong nền kinh tế quốc dân, và theo tính chất thì điện cũng là vật tiêu hao.

Ngoài các vật tiêu hao đã xác định, thì vật liệu nổ cũng là vật tiêu hao. Tuy nhiên, vật liệu nổ theo Nghị định số 47-CP, ngày 12 tháng 8 năm 1996 của Chính phủ về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ phải được quản lý chặt chẽ để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh.

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay?

Thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay luôn được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội, của Đảng và nhà nước vì thế càng phải hiểu rõ được Trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay là như thế...

Bao nhiêu tuổi được làm hộ chiếu?

Mọi công dân không phân biệt độ tuổi đều có quyền xin cấp hộ chiếu phổ thông. Riêng trẻ em 14 tuổi có quyền lựa chọn cấp chung hộ chiếu cùng cha mẹ, người giám hộ hợp pháp hoặc cấp hộ chiếu...

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do thai sản

Tôi ký hợp đồng lao động 24 tháng nhưng làm việc được 10 tháng thì tôi mang thai, công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với...

Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội

Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội được hiểu là hành vi của người tiến hành tố tụng có thẩm quyền (trong tố tụng hình sự) đã khởi tố, truy tố hoặc xét xử người mà họ biết rõ là họ không phạm...

Tội cản trở giao thông đường không theo quy định Bộ luật Hình sự

Cản trở giao thông đường không, được hiểu là hành vi đặt các chướng ngại vật cản trở giao thông đương không; di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy các biển hiệu, tín hiệu an toàn giao thông đường không; sử dụng sai hoặc làm nhiễu các tần sô’ thông tin liên lạc; cung cấp thông tin sai lạc gây nguy hiểm cho chuyến bay; làm hư hỏng trang thiết bị của sân bay hoặc...

Xem thêm

0981.378.999
Online