Giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
Thời hạn giải quyết tranh chấp của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết
1. Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
Căn cứ quy định tại Điều 205 Bộ luật lao động năm 2012 như sau:
– Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền, Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện phải tiến hành giải quyết tranh chấp lao động.
– Tại phiên họp giải quyết tranh chấp lao động phải có đại diện của hai bên tranh chấp. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan tham dự phiên họp.
Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào pháp luật về lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác để xem xét giải quyết tranh chấp lao động.
– Trong trường hợp các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tranh chấp lao động tập thể về quyền
2. Bình luận và phân tích giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
– Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền khi các bên tranh chấp có đơn yêu cầu trong các trường hợp:
+ Hòa giải viên lao động đã tiến hành hòa giải nhưng không thành (có biên bản hòa giải không thành).
+ Hòa giải viên lao động đã hòa giải thành (có biên bản hòa giải thành) mà một trong các bên không thực hiện các thỏa thuận ghi trong biên bản hòa giải thành).
+ Đã hết 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn yêu cầu mà không tiến hành hòa giải.
– Thời hạn giải quyết tranh chấp của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết. Những công việc mà chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện cần thực hiện là thu thập tài liệu chứng cứ do hai bên tranh chấp, các tổ chức, cá nhân khác cung cấp; lập hồ sơ giải quyết tranh chấp, nghiên cứu hồ sơ, đánh giá và sử dụng chứng cứ, chuẩn bị phương án giải quyết, chuẩn bị các điều kiện tổ chức phiên họp chính thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Bộ luật Lao động. Trong quá trình này, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện có thể yêu cầu cơ quan giúp việc của mình là Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội và các phòng chức năng liên quan đến nội dung tranh chấp nghiên cứu, có ý kiến tham mưu; đồng thời, có thể phối hợp với tổ chức đại diện của người lao động, người sử dụng lao động trên địa bàn để có phương án giải quyết tốt nhất.
– Phiên họp giải quyết tranh chấp lao động phải có đại diện của hai bên tranh chấp. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan tham dự phiên họp. Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào pháp luật về lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác để xem xét giải quyết tranh chấp lao động. Trong trường hợp các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quy định về cách thức giải quyết tranh chấp lao. động tập thể về quyền của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện theo Bộ luật Lao động năm 2012 đã hợp lý hơn so với quy định trước đây. Vì, Khoản 1 Điều 170a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2006 quy định:
“1 …Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đó được đăng ký và các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác để xem xét, xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật của các bên.
2. Sau khi Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết mà hai bên vẫn còn tranh chấp hoặc hết thời hạn giải quyết quy định tại điểm a khoản 1 điều này mà Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện không giải quyết thì mỗi bên có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết hoặc tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công”.
Quy định này được cho là chưa hợp lý ở hai vấn đề:
+ (1) Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện đã sử dụng quyết định xử phạt vi phạm hành chính để giải quyết tranh chấp có tính chất dân sự, trong khi thẩm quyền và quy trình xử phạt vi phạm hành chính được quy định trong các văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
+ (2) Khi chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện đã có quyết định xử phạt hành chính các bên vẫn có quyền không thực hiện quyết định đó bằng cách khởi kiện ra tòa án theo thủ tục tổ tụng dân sự (không phải phiên tòa hành chính) hoặc tập thể lao động tổ chức đình công. Bộ luật Lao động năm 2012 đã sửa lại quy định này theo hướng chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định giải quyết tranh chấp lao động (không phải là quyết định xử phạt vi phạm hành chính). Tức là, về cơ bản việc giải quyết nội dung tranh chấp đã đảm bảo tính chất là một vụ việc dân sự.

Tuy nhiên, xét trên nhiều phương diện, việc quy định giao cho Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết tranh chấp lao động là không hợp lý vì:
+ 1) Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện là công chức lãnh đạo có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, không phải là cơ cấu giải quyết tranh chấp lao động;
+ (2) Quyết định của Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện về vụ tranh chấp lao động là loại quyết định áp dụng pháp luật nhưng dưới hình thức một quyết định hành chính, của cơ quan hành chính nhà nước, khi các bên không đồng ý sẽ khởi kiện ra toà án lao động mà không phải là toà án thường hoặc toà án hành chính;
+ (3) Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện phải thực hiện quá nhiều nhiệm vụ, lại “ôm đồm” thêm nhiệm vụ giải quyết tranh chấp lao động tập thể là nặng nề, khó xử lý.
Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.
BÀI VIẾT MỚI NHẤT
Cách ghi lý do chấm dứt hợp đồng lao động
Người lao động cần phải đảm bảo thời gian báo trước khi nghỉ việc thông qua đơn xin nghỉ việc. Cách ghi lý do chấm dứt hợp đồng lao động như thế...
Ai có quyền sa thải nhân viên?
Không được áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải với các hình thức xử lý kỷ luật lao động khác đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động, hoặc nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động đồng thời trong một vụ vi phạm của...
Quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động như thế nào?
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có quyền yêu cầu các bên tranh chấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu, chứng cứ, trưng cầu giám định, mời người làm chứng và người có liên quan....
Được tạm ứng tiền lương tối đa là bao nhiêu?
Tạm ứng tiền lương được Bộ luật Lao động quy định nhằm mục đích chủ yếu là giúp người lao động kịp thời khắc phục những khó khăn gặp phải trong cuộc...
Lao động chưa thành niên là gì? Quy định về lao động chưa thành niên
Với mục đích bảo vệ lao động chưa thành niên khi tham gia quan hệ lao động, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện về học nghề, việc làm, thu nhập, sức khỏe cũng như phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, ngoài các quy định chung, các BLLĐ trước đây cũng như BLLĐ năm 2019, đã có quy định riêng đối với lao động này....
Xem thêm