Chuyển đổi giới tính
Sự cải thiện, nâng cao về chất lượng cuộc sống kéo theo sự quan tâm ngày càng sâu sắc của toàn xã hội đến các quyền nhân thân của con người, đặc biệt là các quyền liên quan đến giới tính.
Chuyển đối giới tính là gì?
Chuyển đổi giới tính là quyền nhân thân của cá nhân được ghi nhận tại Điều 37 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật, cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch, có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.
Tư vấn quy định chuyển đổi lại giới tính theo quy định bộ luật dân sự
Lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật dân sự của Nhà nước ta đã ghi nhận về (quyền) chuyển đổi giới tính của cá nhân theo Điều 37 BLDS năm 2015. Quy định này đã bảo đảm tốt hơn quyền con người, các quyền dân sự của cá nhân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.
Người chuyển đổi giới tính là một trong nhóm LGBT (người đồng tính, song tính và chuyển giới).
Sự cải thiện, nâng cao về chất lượng cuộc sống kéo theo sự quan tâm ngày càng sâu sắc của toàn xã hội đến các quyền nhân thân của con người, đặc biệt là các quyền liên quan đến giới tính.
Theo tài liệu của Viện ISEE (Viện Nghiên cứu xã hội – Kinh tế và Môi trường), tổ chức này định nghĩa: “Người chuyển giới là người có giới tính mong muốn không trùng với giới tính khi sinh ra, không phụ thuộc tình trạng cơ thể đã phẫu thuật hay chưa”.
Bên cạnh đó, tổ chức này cũng đưa ra khái niệm cụ thể về người chuyển giới nữ và người chuyển giới nam, theo đó: “Người chuyển giới nữ là người sinh ra là nam và có giới tính tự nhận, nghĩ rằng mình là nữ”; “Người chuyển giới nam là người sinh ra là nữ và có giới tính tự nhận, nghĩ rằng mình là nam”.
Theo những định nghĩa này, việc xác định một cá nhân là người chuyển giới chỉ phụ thuộc vào suy nghĩ, cảm nhận và sự tự nhận của chính họ, không phụ thuộc vào các thủ tục y khoa và thủ tục pháp lý.
Quan điểm khác thì lại nhấn mạnh đến yếu tố phẫu thuật để chuyển đổi giới tính: “Chuyển đổi giới tính chỉ những thủ tục y khoa dùng để thay đổi giới tính của một người, trong đó có thể bao gồm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay không”.
Hiểu theo quan điểm này, việc chuyển đổi giới tính chỉ đơn thuần là sự tác động về mặt y học vào cơ thể con người, sau khi kết thúc các thủ tục đó họ sẽ được thừa nhận là người chuyển đổi giới tính mà không cần bất cứ một sự ghi nhận nào từ phía Nhà nước.
Cách hiểu này là chưa chính xác vì mỗi cá nhân trong xã hội đều là chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật nên việc chỉ bao gồm các thủ tục y khoa là chưa đầy đủ. Việc cá nhân đã tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính mà chưa được thực hiện các thủ tục pháp lý sẽ làm mất đi ý nghĩa của các thủ tục y khoa vì họ sẽ không thể tham gia vào các quan hệ xã hội với tư cách mới.
Rõ ràng, hiện nay đang tồn tại nhiều cách hiểu, quan điểm khác nhau về người chuyển đổi giới tính. Theo quan điểm tác giả, cần phải nhìn nhận một cách tổng thể, chuyển đổi giới tính không chỉ bao gồm các thủ tục y khoa mà còn có cả những thủ tục pháp lý, trong đó thủ tục y khoa là tiền đề và là cơ sở để tiến hành các thủ tục pháp lý. Những thủ tục y khoa ở đây có thể bao gồm việc tiến hành xét nghiệm, kiểm tra, phẫu thuật, sử dụng nội tiết tố … để thay đổi về mặt hình dạng theo đúng với giới tính mà họ mong muốn.
Việc thay đổi hình dáng cơ thể, bộ phận sinh dục chỉ mới giải quyết về mặt hình thức” bởi những cá nhân này cần phải tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết để chính thức được thừa nhận, được tham gia vào những quan hệ xã hội với tư cách của một chủ thể mới”.
Thủ tục pháp lý bao gồm việc tiến hành thay đổi trên giấy tờ nhân thân và các giấy tờ liên quan tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác nhận một sự kiện pháp lý về thay đổi giới tính của họ.
Khái niệm chuyển đổi giới tính còn hay bị nhầm lẫn, đánh đồng với khái niệm xác định lại giới tính. Xác định lại giới tính là một quyền nhân thân được quy định từ Điều 36 BLDS năm 2005 và nay là Điều 36 BLDS năm 2015. Điều 36 quy định: “... Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính”.
Điểm khác biệt cơ bản nhất giữa xác định lại giới tính với chuyển đổi giới tính là xác định lại giới tính được thực hiện trong trường hợp có khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác về giới tính. Những người này hoàn toàn nhận thức được giới tính đích thực của mình là nam hay nữ. Đối với người chuyển đổi giới tính thì họ lại có cấu tạo sinh học hoàn chỉnh và việc chuyển đổi giới tính là xuất phát từ nhu cầu sống với đúng cảm nhận, suy nghĩ và tình cảm của con người họ.
Trước khi có BLDS năm 2015, ở Việt Nam, việc chuyển đổi giới tính chưa được đề cập và ghi nhận một cách chính thức trong bất kì một văn bản pháp lý nào. Nguyên nhân chính khiến cho quyền này chưa được ghi nhận là các quan niệm truyền thống, định kiến xã hội đối với người chuyển đổi giới tính còn rất lớn.
Sự lên án từ xã hội, sự không ủng hộ từ phía gia đình và sự tự tin của chính những người chuyển giới đã ảnh hưởng đến việc ghi nhận chính thức việc chuyển đổi giới tính trong luật. Bên cạnh đó, rất nhiều luồng quan điểm e ngại việc chuyển đổi giới tính sẽ dẫn đến phát sinh các hệ lụy tiêu cực trong xã hội khó kiểm soát được như: Nhiều người (đa số là nam giới) sẽ chuyển đổi giới tính để trốn tránh nghĩa vụ quân sự, đặc biệt là khi đất nước sắp có chiến tranh;
Chuyển đổi giới tính để gian lận trong thể thao; Chuyển đổi giới tính để trốn việc bị cơ quan điều tra truy nã; Chuyển đổi giới tính để hoạt động mại dâm; Phẫu thuật chuyển giới dễ dẫn tới tai biến do hàng loạt các cuộc phẫu thuật liên tiếp, dẫn tới các vụ kiện cáo sau này; Người tiến hành chuyển giới sẽ phải chịu sự phản đối của gia đình cũng như khó tìm việc làm, dễ dẫn tới các hành vi tiêu cực, làm tăng tỷ lệ phạm tội và bất ổn xã hội;
Việc phải tiêm hoóc-môn (kích thích tố giới tính) liên tục khiến người chuyển giới mắc nhiều tác dụng phụ, sức khỏe suy giảm và bị giảm đáng kể tuổi thọ, tạo ra gánh nặng cho gia đình, hệ thống y tế và an sinh xã hội hoặc chuyển đổi giới tính (từ nữ sang nam) nhằm kéo dài tuổi lao động…”.
Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ và dân chủ hơn, nhu cầu được công khai về giới và được sống thật với chính mình được đặt ra và chú trọng nhiều hơn.
Khoản 1 Điều 4 của Nghị định số 88/2008/NĐ-CP về xác định lại giới tính quy định: “Nghiêm cấm thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính”. Quy định này đã khép lại cơ hội của những người chuyển giới được công nhận trước pháp luật.
Quy định này thực tế đang cản trở người chuyển giới thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, gây ra nhiều bất lợi cho chính bản thân những người chuyển giới và cả các cơ quan quản lý nhà nước. Cụ thể là:
– Những người đã hoàn thành phẫu thuật chuyển đổi giới tính không được phép đổi giới tính của mình trên giấy tờ như chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu, Giấy khai sinh… Đồng nghĩa với việc này, người đã chuyển đổi giới tính không thể tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách mới. Việc không phù hợp giữa hình dáng bên ngoài, giới tính đã chuyển đổi với các giấy tờ tùy thân gây ra không ít các bất lợi, rắc rối cho những người này trong cuộc sống như: người chuyển giới không được phép thay đổi họ tên, gặp khó khăn trong việc tìm kiếm công việc, đi lại di chuyển bằng máy bay… Về phía nhà nước, “sự không phù hợp giữa “người thật” ngoài đời với các giấy tờ tùy thân cũng gây ra không ít khó khăn trong vấn đề quản lý, đặc biệt là trong quản lý hành chính, hộ tịch…”;
– Sự không thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính gây khó khăn trong việc áp dụng một số luật như Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự… Như hành vi giao cấu trái phép với người đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính (thường là nhóm chuyển đổi từ nam sang nữ) đang là một thực trạng đáng báo động diễn ra tại
Việt Nam trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng đang lúng túng trong việc giải quyết các vụ việc này. Bởi, theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành thì chỉ có nữ giới mới có thể là nạn nhân của tội hiếp dâm hoặc cưỡng dâm. Bên cạnh đó, quyền của người chuyển giới trong pháp luật tố tụng hình sự và thi hành án hình sự chưa được bảo đảm.
Khi tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự cũng như trong quá trình thi hành án hình sự, có một số biện pháp cưỡng chế mà khi thực hiện cần căn cứ vào giới tính của đối tượng áp dụng như khám người, tạm giữ, tạm giam; thi hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân…;
– Để có thể tiến hành việc chuyển đổi giới tính, người chuyển giới phải ra nước ngoài tiến hành hoặc phẫu thuật chui trong nước với chi phí cao mà không được đảm bảo về sự an toàn cho tính mạng, sức khỏe. Việc không cho phép các cơ sở y tế trong nước thực hiện việc chuyển đổi giới tính khiến cho những người có nhu cầu phẫu thuật chuyển đổi giới tính sang nước ngoài thực hiện gây ra tình trạng thất thoát nguồn thu từ hoạt động phẫu thuật, “chảy máu ngoại tệ” và làm tăng gánh nặng tài chính cho người phẫu thuật chuyển giới.
Với những bất cập do việc không thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính trong thời gian vừa qua, BLDS năm 2015 đã chính thức ghi nhận cho cá nhân được chuyển đổi giới tính. Theo đó, Điều 37 của Luật này ghi nhận: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật, Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”
Đây là văn bản pháp lý đầu tiên ghi nhận chính thức việc chuyển đổi giới tính của cá nhân. Với sự ghi nhận này, cơ hội để được sống thật với tâm tư, nguyện vọng của những người chuyển giới được mở ra. Việc chuyển đổi giới tính là một quá trình phức tạp, ảnh hưởng sâu sắc đến chính bản thân của người chuyển giới và gây ra những hệ lụy xã hội phức tạp.
Do đó, việc chuyển đổi giới tính phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, với những điều kiện, thủ tục chặt chẽ. Thực tiễn pháp luật của một số nước trên thế giới thường quy định về độ tuổi, tâm sinh lý, sức khỏe, hồ sơ, thủ tục… khi tiến hành chuyển đổi giới tính.
Một điểm đáng ghi nhận là Điều 37 BLDS năm 2015 đã thừa nhận cho cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Việc đăng kí hộ tịch của những cá nhân này vừa được coi là quyền và vừa là nghĩa vụ. Bởi lẽ, việc đăng kí hộ tịch của những cá nhân chuyển giới là mong mỏi, là điều kiện để họ giải quyết các “rắc rối pháp lý” trong cuộc sống khi họ chưa được ghi nhận quyền này.
Đồng thời, những cá nhân đã chuyển giới có nghĩa vụ phải đăng kí thay đổi hộ tịch để cơ quan nhà nước còn quản lý. Thay đổi hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thay đổi những thông tin hộ tịch của cá nhân khi có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật dân sự… (khoản 10 Điều 4 Luật hộ tịch năm 2014).
Với ghi nhận này, những cá nhân đã tiến hành chuyển đổi giới tính trước ngày 01/01/2017 (ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực pháp luật) được quyền thay đổi giới tính trên các giấy tờ như: Chứng minh thư nhân dân, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu… Đồng thời với việc thay đổi giới tính trên các giấy tờ tùy thân, người chuyển đổi giới tính thường còn có nhu cầu thay đổi tên. Bởi tên của mỗi cá nhân thường được đặt phù hợp với giới tính của mỗi cá nhân khi được sinh ra.
Việc ghi nhận cho cá nhân chuyển đổi giới tính được đăng kí thay đổi hộ tịch là một điểm tiến bộ, giải quyết được nhiều bất cập đang tồn tại trong thời gian vừa qua, góp phần tháo gỡ các vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự… liên quan đến nhóm người này.
Để đảm bảo cho cá nhân đã chuyển đổi giới tính, BLDS năm 2015 còn ghi nhận cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan. Điều này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực lao động, việc làm. Người lao động nữ và người lao động nam có những quyền lợi cũng như chế độ khác nhau, nên việc ghi nhận tại Điều 37 BLDS năm 2015 đã từng bước đảm bảo quyền lợi cho nhóm người chuyển đổi giới tính.
Bên cạnh những điểm tích cực ở trên, tác giả cũng có một vài ý kiến đóng góp liên quan đến Điều 37 BLDS năm 2015. Cụ thể:
Thứ nhất: Khi nghiên cứu về các quyền nhân thân, quy định từ Điều 25 đến Điều 39 BLDS năm 2015, các nhà làm luật đều sử dụng thuật ngữ “quyền” như: quyền có họ, tên; quyền thay đổi họ; quyền xác định lại giới tính; quyền kết hôn; quyền ly hôn… Trong khi đó, chuyển đổi giới tính không được ghi nhận là “quyền chuyển đổi giới tính” mà chỉ được ghi nhận là “việc chuyển đổi giới tính”.
Cách thức ghi nhận như trên có hai điểm không phù hợp: một là, không thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ pháp lý trong BLDS năm 2015. Có 13/14 Điều luật trong Mục 2 về quyền nhân thân đều sử dụng thuật ngữ quyền”, duy nhất tiêu đề Điều 37 không có thuật ngữ “quyền”.
Do đó, tên của Điều 37 chưa thống nhất với tên của các điều còn lại quy định về quyền nhân thân; hai là, Điều 37 về chuyển đổi giới tính nằm trong Mục 2 Chương II BLDS năm 2015. Mục 2 với tiêu đề “quyền nhân thân” thì tất cả giá trị nhân thân được ghi nhận tại Mục 2 đều được xác định là “quyền”.
Bởi vậy, việc đặt tiêu đề cho Điều 37 chưa phù hợp với tiêu đề Mục 2. Với những lý do đã phân tích, theo tác giả, tiêu đề của Điều 37 BLDS năm 2015 nên quy định là “quyền chuyển đổi giới tính” thay cho tiêu đề “chuyển đổi giới tính” để phù hợp với các điều luật quy định về quyền nhân thân và logic với tiêu đề Mục 2 Chương II BLDS năm 2015.
Thứ hai: Điều 37 BLDS năm 2015 mới chỉ quy định chung chung “người đã chuyển đổi giới tính” có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Tuy nhiên, thực tế xác định thế nào là “người đã chuyển đổi giới tính” không đơn giản.
Hiện nay, có rất nhiều trường hợp một số cá nhân tiến hành phẫu thuật chuyển đổi một số bộ phận mà không phải toàn bộ vì lý do kinh phí, sức khỏe, thời gian, nguyện vọng…
Do đó, tồn tại nhiều trường hợp một người đã tiến hành phẫu thuật bộ phận sinh dục nhưng không tiến hành phẫu thuật phần ngực trên hoặc ngược lại thì họ có được quyền thay đổi hộ tịch hay không? Vì thực tiễn trên, Điều 37 BLDS năm 2015 hoặc văn bản hướng dẫn cụ thể việc chuyển đổi giới tính trong thời gian tới cần làm rõ khái niệm “người đã chuyển đổi giới tính”.
Để tránh mâu thuẫn, tạo sự thống nhất trong các văn bản pháp lý, trong thời gian tới, các văn bản pháp luật có liên quan khác cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Điều 37 BLDS năm 2015 và cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về việc chuyển đổi giới tính.
Theo tác giả, khi ban hành các văn bản quy định chi tiết thi hành hoặc hướng dẫn áp dụng Điều 37 BLDS năm 2015, cần theo hướng dự liệu với các nội dung sau: quy định cụ thể các điều kiện, thủ tục và hệ quả pháp lý của việc chuyển đổi giới tính; nguyên tắc chuyển đổi giới tính triệt để.
BÀI VIẾT MỚI NHẤT
Hàng xóm hát karaoke ồn ào gọi ai để xử lý?
Pháp luật giới hạn tối đa cho phép về tiếng ồn tại khu vực thông thường (gồm: Khu chung cư, các nhà ở riêng lẻ nằm cách biệt hoặc liền kề, khách sạn, nhà nghỉ, cơ quan hành chính) khoảng từ 6 giờ đến 21 giờ là 70dBA, từ 21 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau là 55...
Khám trái tuyến được hưởng bảo hiểm như thế nào?
Con tôi hiện đang khám bệnh và điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương, vậy khi tôi khám bệnh trái tuyến thì con tôi được hưởng mức chi phí bảo hiểm y tế như thế nào, con tôi đã có thẻ bảo hiểm và tham gia nộp bảo hiểm đầy...
Muốn làm luật sư thì phải học giỏi môn gì?
Với đặc thù công việc, ngành luật sư đặt ra những yêu cầu chặt chẽ và điều kiện để trở thành Luật sư. Vậy muốn làm luật sư thì phải học giỏi môn...
Chuyển tiền nhầm tài khoản người khác có lấy lại được không?
Trên thực tế có thể thấy được rằng việc chuyển nhầm tiền vào tài khoản của người khác xảy ra rất phổ biến hiện nay, khi gặp phải vấn đề này nhiều người luôn thắc mắc về việc có lấy lại tiền được không và thực hiện như thế...
Cơ cấu tổ chức của hợp tác xã như thế nào?
Cơ cấu tổ chức của hợp tác xã như thế nào? Cơ cấu tổ chức hợp tác xã gồm: Đại hội xã viên, Ban quản trị, Ban kiểm soát ,Chủ nhiệm hợp tác...
Xem thêm