Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Tư vấn Luật Dân sự Chia di sản thừa kế theo pháp luật như thế nào?
  • Thứ tư, 25/05/2022 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 716 Lượt xem

Chia di sản thừa kế theo pháp luật như thế nào?

“Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước”

Di sản thừa kế là phần di sản còn lại sau khi đã thanh toán nghĩa vụ của người chết để lại và các chi phí liên quan đến di sản. Di sản này sau khi tách phần di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng (nếu người để lại di sản có xác định) sẽ chia theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật cho những người thừa kế.

Vậy chia di sản thừa kế theo pháp luật như thế nào? Khách hàng quan tâm vui lòng theo dõi nội dung bài viết dưới đây.

Phân chia di sản theo di chúc

Phân chia di sản theo di chúc Điều 684 BLDS 2005 đã quy định:

“1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu huỷ do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

3. Trong trường hợp di chúc chi xác định phân chia di sản theo tỉ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỉ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.”

Pháp luật luôn tôn trọng ý chí của người để lại di sản nên nếu họ có để lại di chúc hợp pháp và trong đó đã xác định cách phân chia di sản, phần di sản mà mỗi người thừa kế theo di chúc được hưởng thì di sản phải được phân chia theo đúng ý định mà người để lại di sản đã xác định trong di chúc.

Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, người lập di chúc đã định đoạt tài sản phạm vào kỷ phần luật định đối với người thừa kế được xác định theo Điều 669 BLDS 2005 thì khi chia di sản theo di chúc không tuyệt đối theo sự định đoạt của người lập di chúc mà phải chú ý và bảo đảm quyền lợi của những người được thừa kế theo điều luật nói trên. Mặt khác, khi chia di sản phải dành phần di sản cho người được xác định trong di chúc nhưng chưa sinh ra vào thời điểm phân chia di sản.

Về nguyên lý thì khi người để lại di sản lập di chúc và trong đó đã xác định những người thừa kế thì coi như đã bao hàm cả việc phân định di sản cho người thừa kế. Ngoài ra, có thể trong di chúc, người để lại di sản đã phân định một cách cụ thể cho người thừa kế nào hưởng một phần di sản là bao nhiêu, hoặc hưởng di sản là hiện vật gì.

Vì vậy, để việc thừa kế được thực hiện theo đúng ý nguyện của người để lại di sản theo di chúc thì di sản phải được chia theo đúng một trong ba trường hợp sau đây:

– Di sản được chia đều cho những người thừa kế theo di chúc hoặc theo thoả thuận của những người thừa kế theo di chúc. Đây là trường hợp, người để lại di sản không xác định rõ phần di sản mà từng người thừa kế được hưởng hoặc xác định rằng tất cả những người được chỉ định trong di chúc được hưởng một phần di sản bằng nhau.

Vì vậy, nếu trong di chúc chỉ xác định một người thừa kế thì sau khi trích phần di sản cho người thừa kế theo luật được xác định tại Điều 669 BLDS 2005 (nếu có), di sản còn lại sẽ thuộc về người có tên trong di chúc.

Nếu di chúc chỉ định nhiều người thừa kế và đã xác định những người đó được hưởng ngang nhau đối với toàn bộ khối di sản thừa kế thì phải xác định trị giá của từng loại di sản để tính tổng giá trị di sản được chia và theo đó chia đều trên tổng giá trị của di sản hiện còn vào thời điểm phân chia cho tất cả những người được chỉ định trong di chúc.

Nếu di chúc chỉ định nhiều người thừa kế nhưng không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì cũng chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc trên tổng giá trị của di sản hiện còn vào thời điểm phân chia di sản.

Tuy nhiên, trong trường hợp này được coi là người lập di chúc chưa phân định từng phần di sản cho từng người thừa kế nên những người thừa kế được chỉ định trong di chúc có quyền thoả thuận về việc hưởng di sản.

– Di sản được chia theo tỉ lệ được xác định trong di chúc thi

Trong trường hợp người lập di chúc đã chỉ định những người thừa kế đồng thời đã xác định rõ trong di chúc về tỉ lệ mà mỗi người thừa kế được hưởng trên tổng giá trị khối di sản (như 1/2, 1/3, 1/4 v.v.) thì sau khi định giá từng tài sản để xác định tổng giá trị của khối di sản thừa kế hiện còn vào thời điểm phân chia di sản, di sản được phân chia cho từng người thừa kế theo tỉ lệ đã được xác định trong di chúc.

Tuy nhiên, cần lưu ý là nếu có phần di sản không còn vào thời điểm phân chia di sản nhưng do người thừa kế được hưởng theo di chúc đã sử dụng hết hoặc đã định đoạt thì vẫn tính vào tổng giá trị khối di sản vào thời điểm phân chia và người thừa kế nào đã sử dụng hết hoặc đã định đoạt phần di sản đó sẽ bị khấu trừ đi khi nhận di sản.

– Di sản được phân chia theo từng hiện vật cụ thể

Cách phân chia này được thực hiện trong trường hợp người để lại di sản đã xác định rõ trong di chúc về người thừa kế nào được hưởng di sản là hiện vật gì một cách cụ thể hoặc trong trường hợp người để lại di sản chỉ xác định người thừa kế mà chưa xác định cụ thể về cách phân chia di sản nên những người thừa kế theo di chúc đã thoả thuận với nhau về việc phân chia di sản thừa kế theo hiện vật.

Di sản được giao cho từng người thừa kế bằng hiện vật như di chúc đã xác định hoặc theo sự thoả thuận giữa những người hưởng di sản thừa kế. Người thừa kế nhân vật theo trình trạng hiện tại của vật vào thời điểm phân chia di sản thừa kế.

 Nghĩa là khi người thừa kế nào đã nhận di sản là hiện vật cụ thể (di vật), sẽ được hưởng các hoa lợi, lợi tức có được từ di vật đó đồng thời phải chịu thiệt thòi nếu di vật đó bị giảm sút giá trị hoặc bị tiêu huỷ tự nhiên. Nếu vật bị tiêu huỷ do lỗi của người khác thì người thừa kế được nhận hiện vật đó có quyền yêu cầu người có lỗi làm cho vật đó bị tiêu huỷ bồi thường thiệt hại cho mình.

Phân chia di sản theo pháp luật

Khi phân chia di sản theo pháp luật phải tuân theo trình tự và các nguyên tắc sau:

– Chia trước và chia hết cho những người thừa kế ở hàng thừa kế trước

Căn cứ của việc phân chia những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật thành các hàng thừa kế khác nhau (từ hàng thừa kế thứ nhất đến hàng thừa kế thứ ba) là mức độ gần gũi, thích thuộc giữa họ với người để lại di sản đồng thời với mục đích là người nào có mức độ gần gũi nhất sẽ được hưởng di sản của người đó, những người có cùng mức độ gần gũi sẽ cùng được hưởng di sản của người chết để lại.

Vì vậy, trước hết di sản phải được chia cho những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất. Nếu không còn ai hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ nhất vì đã chết trước hay chết cùng thời điểm với người để lại di sản (mà không có người thừa kế thế vị) hoặc còn sống vào thời điểm mở mở thừa kế nhưng đều không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 hoặc đều bị người để lại di sản truất quyền hưởng di sản, hay họ đều từ chối nhận di sản thì di sản mới được chia cho những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ hai.

Nếu cũng không còn ai hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ hai vì đã chết trước hay chết cùng thời điểm với người để lại di sản (mà không có người thừa kế thế vị) hoặc còn sống vào thời điểm mở thừa kế nhưng đều không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 hoặc đều từ chối nhận di sản thì di sản mới được chia cho những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ ba.

Trong trường hợp di sản không có người nhận thừa kế thì di sản đó thuộc về Nhà nước: “Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước” (Điều 644 BLDS 2005).

– Di sản được chia đều cho những người cùng hương thừa kế

Theo nguyên tắc những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau (khoản 2 Điều 676 BLDS 2005) nên nếu có người thừa kế cùng hàng hưởng di sản đã thành thai nhưng chưa sinh ra vào thời điểm phân chia di sản thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác cùng hàng được hưởng để khi người thừa kế đó sinh ra và còn sống sẽ được hưởng.

Trong trường hợp người thừa kế đó chết trước khi sinh ra hoặc sinh ra nhưng chưa được một ngày đã chết thì phần di sản đã dành ra đó được chia tiếp cho những người thừa kế. Nếu sau một ngày trở lên kể từ khi sinh ra mà người thừa kế đó chết thì phần di sản mà người đó được hưởng sẽ thuộc về người thừa kế theo pháp luật của người đó.

– Phân chia di sản theo hiện vật

Di sản phải chia theo hiện vật nếu người thừa kế yêu cầu được hưởng di sản thừa kế bằng hiện vật. Khi chia theo hiện vật thì mỗi người thừa kế có thể nhận hiện vật có giá trị chênh lệch nhau mà không phải thanh toán cho nhau giữa phần chênh lệch đó nếu có thoả thuận.

Nếu những người thừa kế không có thoả thuận gì khác trong việc phân chia di sản bằng hiện vật thì di sản được chia đều cho những người thừa kế. Trong trường hợp di sản bao gồm nhiều hiện vật khác nhau và mỗi một hiện hiện vật có giá trị khác nhau thì trước khi chia di sản phải xác định giá trị của từng hiện vật trên cơ sở cùng thoả thuận định giá của những người thừa kế. Sau đó lấy tổng giá trị của khối di sản thừa kế chia cho tổng số xuất được hưởng di sản thừa kế để xác định một xuất thừa kế trị giá là bao nhiêu.

Theo đó, người thừa kế đã nhận vật có giá trị lớn hơn trị giá của xuất thừa kế thì phải thanh toán lại phần vượt quá đó. Ngược lại, người thừa kế nào nhận hiện vật có giá trị nhỏ hơn trị giá của một xuất thừa kế thì được nhận thêm phần di sản tương đương với phần giá trị còn thiếu đó (thường được người nhận di sản có giá trị lớn hơn thanh toán bằng tiền).

Trong trường hợp nếu có những hiện vật mà những người thừa kế không thoả thuận được người nhận (do ai cũng muốn nhận hoặc không ai muốn nhận hiện vật đó) thì được bán để chia bằng tiền.

– Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới

“Người thừa kế mới” được hiểu là những người thừa kế của người để lại di sản xuất hiện sau khi di sản của người đó đã được phân chia (đối với phần di sản được giải quyết theo pháp luật), bao gồm những người sau đây:

+ Con của người để lại di sản sinh ra và còn sống sau thời điểm di sản thừa kế được phân chia (trong trường hợp thai đối, thai ba .V.V. nhưng tại thời điểm phân chia di sản chỉ xác định là thai một).

+ Người đã được Toà án xác nhận là con của người để lại di sản nhưng quyết định hoặc bản án của Toà án có hiệu lực sau thời điểm phân chia di sản.

+ Người được Toà án xác nhận là cha, mẹ của người để lại di sản nhưng quyết định hoặc bản án của Toà án có hiệu lực sau thời điểm phân chia di sản.

+ Con của người để lại di sản đã bị Toà án tuyên bố là đã chết trước thời điểm người để lại di sản chết nhưng có tin tức xác thực là còn sống hoặc trở về sau thời điểm đã phân chia di sản.

+ Cha, mẹ của người để lại di sản đã bị Toà án tuyên bố chết trước thời điểm người để lại di sản chết nhưng có tin tức xác thực là còn sống hoặc trở về sau thời điểm đã phân chia di sản.

+ Nếu di sản được chia cho hàng thừa kế thứ hai hoặc hàng thừa kế thứ ba thì người thừa kế mới ở các hàng này cũng được xác định tương tự như trên.

– Theo liệt kê trên thì người thừa kế mới chỉ bao gồm là những người thừa kế theo luật. Mặt khác, khoản 1 Điều 687 BLDS 2005 không quy định cụ thể về người thừa kế mới chỉ là những người thừa kế theo luật hay cả người thừa kế theo di chúc của người để lại di sản.

Vì thế, một câu hỏi được đặt ra là nếu sau thời điểm di sản của người chết đã được phân chia mới xuất hiện người thừa kế theo di chúc thì người thừa kế theo di chúc đó có được coi là người thừa kế mới hay không?

Câu trả lời của chúng tôi là không vì lý do sau đây: Trường hợp người thừa kế xuất hiện sau khi di sản đã được phân chia được hiểu là trường hợp di chúc mà người đó được chỉ định làm người thừa kế được tìm thấy hoặc chỉ được công bố sau khi di sản đã được phân chia. Trong khi đó, Điều 666 BLDS 2005 đã có quy định:

1. Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.

2. Trong trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc”. Dẫn chiếu quy định trên để thấy rằng tại thời điểm phân chia di sản mà di chúc không xuất hiện thì được coi là không có di chúc và di sản sẽ được chia theo pháp luật. Vì thế, sau khi di sản đã được phân chia mới xuất hiện di chúc thì di chúc đó sẽ không được thừa nhận nữa.

Điều đó cũng có nghĩa là người được chỉ định trong bản di chúc đó không được coi là người thừa kế mới. Khi người thừa kế mới xuất hiện thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật nhưng những người thừa kế đã nhận di sản cùng phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương đương với kỳ phần thừa kế theo luật mà người đó được hưởng tại thời điểm chia di sản thừa kế.

Khoản tiền mà mỗi người thừa kế phải thanh toán cho người thừa kế mới tương ứng với phần di sản mà họ đã nhận, trừ trường hợp giữa họ có thoả thuận khác.

– Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế

Người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế được hiểu là người đã được chia di sản của người chết để lại nhưng họ lại là người không được quyền hưởng di sản theo quy định của khoản 1 Điều 643 BLDS 2005.

Thông thường trong thực tế thì đó là những trường hợp sau khi chia di sản xong, một trong những người thừa kế thấy trong số đó có người đã có một trong những hành vi được quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 2005, họ khởi kiện yêu cầu Toà án bác bỏ quyền hưởng di sản thừa kế của người đó và đã được Toà án ra quyết định hoặc bản án tuyên bố bác bỏ quyền thừa kế của người đó.

Về vấn đề này cũng có một câu hỏi được đặt ra là sau khi di sản được chia mới phát hiện có một bản di chúc do người để lại di sản lập ra, trong đó truất quyền thừa kế của một người nào đó thì người bị truất trong bản di chúc này có bị coi là người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế không? Tương tự như cách lý giải đối với người thừa kể mới, thì câu trả lời của chúng tôi cũng là không.

Khi di sản đã được phân chia mà xác định có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc phải thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế được hưởng di sản, trừ trường hợp họ có thoả thuận khác.

– Hạn chế phân chia di sản

Để bảo đảm sự tôn trọng ý chí của người để lại di sản đồng thời nhằm bảo đảm sự ổn định cuộc sống của những người thừa kế trong một số trường hợp nhất định, việc hạn chế phân chia di sản được coi là một nguyên tắc áp dụng đối với cả việc phân chia di sản theo di chúc cũng như với việc phân chia di sản theo pháp luật.

Theo quy định tại Điều 686 BLDS 2005 thì di sản sẽ bị hạn chế phân chia trong những trường hợp sau đây:

+ Nếu theo ý chí của người lập di chúc, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định hoặc khi sự kiện đã được người lập di chúc xác định trong di chúc thì khi hết thời hạn đó hoặc khi sự kiện đó xuất hiện thì di sản mới được phân chia cho những người thừa kế.

Chẳng hạn, ông A có vợ là bà B, trước khi chết ông A có để lại di chúc và trong đó đã phân chia di sản cho những người thừa kế. Trong di chúc cũng đã xác định là di sản chỉ được phân chia khi bà B chết thì mặc dù di chúc của ông A đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm ông A chết nhưng di sản của ông A chỉ được phân chia khi bà B đã chết. Khi

+ Trong trường hợp có người thừa kế yêu cầu chia di sản (mặc dù không có di chúc của người để lại di sản hoặc có những người lập di chúc không thể hiện ý chí về thời hạn phân chia di sản) mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người vợ hoặc người chồng còn sống của người để lại di sản và của gia đình thì vợ. (hoặc chồng) của người để lại di sản có quyền yêu cầu Toà án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời gian nhất định (không quá ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế).

Khi hết thời hạn do Toà án xác định hoặc vợ, hay chồng của người để lại di sản đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án cho chia di sản thừa kế.  

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Mua nhà vi bằng có làm sổ hồng được không?

Vi bằng không có giá trị thay thế cho hợp đồng được công chứng, chứng thực. Việc mua nhà bằng cách lập vi bằng là không Đúng với quy định của pháp...

Vi bằng nhà đất có giá trị bao lâu?

Hiện nay, pháp luật không có quy định về thời hạn giá trị sử dụng của vi bằng. Tuy nhiên, bản chất khi lập vi bằng được hiểu lập là để ghi nhận sự kiện, hành vi có thật bởi chủ thể có thẩm quyền do Nhà nước quy định và được đăng ký tại Sở Tư...

Mua xe trả góp có cần bằng lái không?

Với hình thức mua xe trả góp, người mua có thể dễ dàng sở hữu một chiếc xe mà không cần có sẵn quá nhiều...

Không có giấy phép lái xe có đăng ký xe được không?

Theo quy định pháp luật hiện hành, người mua xe hoàn toàn có quyền thực hiện các thủ tục đăng ký xe máy và pháp luật cũng không quy định bất kỳ độ tuổi cụ thể nào mới có thể được đứng tên xe. Do vậy, Ngay cả khi bạn chưa có bằng lái, bạn vẫn có thể thực hiện đăng ký xe bình...

Phí công chứng hợp đồng thuê nhà hết bao nhiêu tiền?

Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì việc thuê nhà bắt buộc phải lập thành hợp đồng nhưng không bắt buộc phải công chứng, chứng thực trừ khi các bên có nhu...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi