• Thứ hai, 23/10/2023 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 3154 Lượt xem

Xử lý trường hợp vay tiền ngân hàng rồi bỏ trốn

Anh Đông vay 40 triệu đồng của ngân hàng chính sách phát triển tỉnh dưới dạng tín chấp với thời hạn 2 năm. Nhưng sau khi nhận được tiền vài ngày thì anh Đông cầm tiền bỏ nhà đi không ai biết, đã gần 1 năm nay không ai có tin tức của anh. Vậy đến thời hạn 2 năm mà anh Đông không trả được số tiền thì ngân hàng giải quyết như thế nào?

 

Trả lời:

Chào bạn, câu hỏi về trường hợp vay tiền ngân hàng rồi bỏ trốn của bạn Luật Hoàng Phi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ quy định Điều 474 Bộ luật dân sự 2005:

“1. B ên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2.  Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3.  Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4.  Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5.  Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Như vậy nếu đến hạn mà anh Đông không trả được nợ Ngân hàng thì anh Đông phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

Nếu anh Đông bỏ trốn không về thì anh Đông có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 điều 140 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Trong trường hợp cần tư vấn thêm về trường hợp vay tiền ngân hàng rồi bỏ trốn, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Có bắt buộc phải hòa giải khi tranh chấp lao động?

Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao...

Tội cố ý làm lộ, chiếm đoạt, mua bán tài liệu bí mật nhà nước

Cố ý làm lộ bí mật Nhà nước, được hiểu là hành vi làm cho người (khác) không có trách nhiệm biết được nội dung xác định là bí mật Nhà nước (Bí mật Nhà nước là những tin về vụ việc, tài liệu, vật, địa điểm, thời gian, lời nói có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học công nghệ, các lĩnh vực...

Lực lượng cảnh sát tuần tra được sử dụng phương tiện nghiệp vụ gì?

Phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng cảnh sát nhân dân được lắp đặt, sử dụng tại các trạm cảnh sát giao thông, các chốt cố định trên tuyến giao thông hoặc trên các phương tiện tuần tra, kiểm soát theo đúng kế hoạch được cấp Công an có thẩm quyền phê duyệt, đảm bảo minh bạch và đúng quy định của pháp luật và hưởng dẫn của Bộ Công...

Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai để thừa kế

Ông nội tôi khi còn sống có cho bố tôi 1/2 mảnh đất của ông để canh tác, nhưng không có giấy tờ chuyển nhượng hay tặng cho gì. Ông nội tôi mất không để lại di chúc. Sau đó, bố tôi cũng qua đời. Hiện nay, hai bác nhà tôi đòi bán đất và chia làm 3 phần nhưng mẹ tôi không đồng ý. Hai bên dẫn tới tranh chấp. Việc phân chia tài sản là mảnh đất trong trường hợp này như thế...

Quy định của pháp luật về tặng cho bất động sản

Chồng tôi được bà ngoại tặng cho một mảnh đất. Sau khi bà mất, bác của chồng tôi tức con của bà đến đòi chia đôi đất. Xin hỏi như vậy đúng...

Xem thêm

0981.378.999
Online