• Thứ tư, 25/05/2022 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 2231 Lượt xem

Tự bảo vệ quyền dân sự

Việc tự bảo vệ quyền dân sự phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó và không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.

Tự bảo vệ quyền dân sự là gì?

Tự bảo vệ quyền dân sự là việc cá nhân, pháp nhận tự bảo vệ các quyền dân sự của  mình bằng các biện pháp, hành vi cụ thể phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó và không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự.

Phân tích Tự bảo vệ quyền dân sự

Việc tự bảo vệ quyền dân sự phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó và không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự.

Đây là nội dung mới, lần đầu được quy định trong BLDS năm 2015. Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì ca: thể có quyền dân sự bị xâm phạm có thể sử dụng các biện pháp để tự bảo vệ các quyền dân sự của mình theo quy định của pháp luật dân sự như: tự bảo vệ, ngăn cản, truy tìm, đòi lại tài sản, thực hiện các biện pháp tác động…

Khi thực hiện biện pháp tự bảo vệ, yêu cầu cơ bản là: không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của BLDS năm 2015. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện biện pháp tự bảo vệ phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó. Nghĩa là, việc tự bảo vệ phải tương xứng với tính chất, mức độ của việc xâm phạm.

Nếu thực hiện biện pháp tự bảo vệ không phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm, sẽ bị coi là vượt quá giới hạn thực hiện quyền dân sự. Khi đó, người thực hiện biện pháp tự bảo vệ sẽ không được pháp luật dân sự công nhận và bảo vệ.

Khi chủ thể quyền dân sự không thể thực hiện biện pháp tự bảo vệ quyền dân sự bị xâm phạm, thì người có quyền dân sự bị xâm phạm có thể thực hiện các phương thức bảo vệ quyền dân sự như quy định tại Điều 11 BLDS năm 2015: yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi  bị xâm phạm (còn được gọi là quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 4 Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Tử hình là gì?

Bởi nâng cao tính nhân văn trong pháp luật, nên Bộ luật hình sự Việt nam đã bãi bỏ rất nhiều trường hợp tội phạm theo những quy định cũ sẽ bị áp dụng mức phạt cao nhất là tử...

Chế độ bảo vệ thai sản đối với lao động nữ được quy định như thế nào?

Do độ tuổi sinh sản của lao động nữ nằm trong độ tuổi lao động, nên hầu hết lao động nữ đều trải qua thời kỳ mang thai, sinh con và nuôi con khi làm...

Tiếp công dân là gì?

Tiếp công dân là việc chủ thể có thẩm quyền theo quy định pháp luật thực hiện công tác đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, đồng thời có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp...

CMND còn hạn sử dụng có cần đổi CCCD không?

Căn cước công dân là một trong những loại giấy tờ tùy thân chính của công dân Việt Nam. Đây là hình thức mới của giấy chứng minh nhân dân, bắt đầu cấp phát và có hiệu lực tuè năm 2016. Theo Luật Căn cước công dân năm 2014, người từ đủ 14 tuổi trở lên sẽ được cấp thẻ căn cước công...

Trước khi thành lập công ty ai là người ký hợp đồng thuê trụ sở công ty?

Hợp đồng thuê trụ sở của công ty rõ ràng là hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của công ty, do đó, chủ thể ký hợp đồng này phải là người thành lập công...

Xem thêm

0981.378.999
Online