Trang chủ Tìm hiểu pháp Luật Tư vấn Luật Dân sự Người quản lý di sản theo quy định của pháp luật?
  • Thứ tư, 25/05/2022 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 860 Lượt xem

Người quản lý di sản theo quy định của pháp luật?

Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra. 

Nói đến người quản lý di sản thì nhiều người nghĩ rằng đây là người có quyền nắm giữ quản lý các tài sản thuộc di sản mà người chết để lại trong thời gian di sản chưa được chia cho những người thừa kế. Nhưng thực tế không biết pháp luật quy định về người quản lý di sản như thế nào? Mời Khách hàng cùng theo dõi nội dung bài viết để biết thêm thông tin.

Pháp luật quy định như thế nào về người quản lý di sản?

Người quản lý di sản được Điều 638 BLDS 2005 quy định như sau: 

1. Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra.

2. Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.

3. Trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

Người quản lý di sản được xác định theo những trường hợp cụ thể nào?

Theo quy định trên thì người quản lý di sản được xác định theo bốn trường hợp: 

Trường hợp thứ nhất: Người được người để lại di sản xác định trong di chúc

Đây là trường hợp người để lại di sản có để lại di chúc và trong di chúc đó đã xác định người quản lý di sản. Vì vậy, người quản lý di sản trong trường hợp này là cá nhân hay tổ chức bất kỳ, miễn họ là chủ thể đã được xác định trong di chúc hợp pháp. 

Trường hợp thứ hai: Người được những người thừa kế thoả thuận cử ra

Trong thời gian di sản thừa kế chưa được chia, những người thừa kế có thể thỏa thuận để cử ra người quản lý di sản đó. Người được cử làm người quản lý di sản có thể là một trong những người thừa kế, có thể là người khác tùy theo thỏa thuận của họ. Tuy nhiên, những người thừa kế chỉ được thỏa thuận để cử người quản lý di sản nếu người để lại di sản không để lại di chúc hoặc có để lại di chúc nhưng trong di chúc chưa xác định người quản lý di sản. 

Trường hợp thứ ba: Người đang thực tế chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản

Người đang thực tế chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản có thể là người đã giao kết một giao dịch dân sự với người để lại di sản như ủy quyền quản lý tài sản, cho thuê, cho mượn tài sản, có thể là người cùng quản lý, sử dụng khối di sản đó với người để lại di sản khi họ còn sống. Vì vậy, xác định người quản lý di sản trong trường hợp này cần lưu ý: 

Thứ nhất, nếu người đang thực tế chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản là người được người để lại di sản ủy quyền quản lý tài sản đó thì việc ủy quyền được coi là chấm dứt từ thời điểm mở thừa kế và vì vậy, những người thừa kế có quyền yêu cầu người đó giao lại di sản đó cho người quản lý di sản. Tuy nhiên, nếu chưa có người quản lý di sản (chưa được xác định trong di chúc, những người thừa kế chưa cử) thì người được ủy quyền quản lý tài sản sẽ là người tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi có người quản lý di sản mới hoặc cho đến khi tài sản được chia cho người thừa kế. 

Thứ hai, nếu người đang thực tế chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản là người cùng quản lý, sử dụng khối di sản đó với người để lại di sản khi họ còn sống thì sẽ là người tiếp tục quản lý di sản cho đến khi có người quản lý di sản hoặc cho đến khi di sản được phân chia.

Thứ ba, nếu người đang thực tế chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản là một bên trong hợp đồng thuê, mượn tài sản được giao kết giữa người đó với người để lại di sản mà hợp đồng này không xác định thời hạn thì họ sẽ là người quản lý di sản cho đến khi có người quản lý di sản hoặc di sản được phân chia cho những người thừa kế. 

Thứ tư, nếu người đang thực tế chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản là một bên trong hợp đồng thuê, mượn tài sản được giao kết giữa người đó với người để lại di sản mà hợp đồng này có xác định thời hạn thì họ sẽ là người quản lý di sản cho đến khi hợp đồng hết thời hạn. 

Trường hợp thứ tư: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế, chưa có người quản lý di sản và thực tế di sản đang trong tình trạng không có người quản lý thì Ủy ban nhân dân cơ sở nơi có tài sản đó là người quản lý di sản cho đến khi xác định được người thừa kế. 

Quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản đã được pháp luật xác định. Tuy nhiên, mỗi một trường hợp (theo 4 trường hợp về người quản lý di sản nói trên) thì người quản lý di sản có quyền và nghĩa vụ khác nhau. 

Theo quy định tại Điều 639 và Điều 640 BLDS 2005 thì quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản trong trường hợp thứ nhất, thứ hai, thứ tư là giống nhau: 

 Về quyền: Người quản lý di sản trong các trường hợp này được quyền quản lý toàn bộ tài sản là di sản thừa kế; được quyền yêu cầu người thuê, mượn, thuê khoán tài sản là di sản thừa kế phải giao lại tài sản đó khi hợp đồng hết hạn; được quyền yêu cầu người đang chiếm hữu thực tế tài sản là di sản phải giao lại tài sản đó; được quyền đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế

Ngoài ra, còn một số vấn đề cần bàn thêm về quyền của người quản lý di sản như là quyền được thanh toán chi phí, quyền được hưởng thù lao… 

Về chi phí đã bỏ ra trong việc quản lý di sản: Dù không quy định ở điều luật nhưng chi phí quản lý di sản là một trong các khoản chi phí liên quan đến thừa kế phải được thanh toán trước khi di sản thừa kế được chia cho người thừa kế theo quy định tại Điều 683 BLDS 2005. Vì vậy, nếu trong quá trình quản lý di sản mà người quản lý di sản đã thực tế bỏ ra những chi phí hợp lý trong việc bảo quản di sản thì phần chi phí đó phải được thanh toán cho họ. 

– Về thù lao: Người quản lý di sản không đương nhiên được hưởng thù lao mà chỉ được hưởng trong trường hợp có thoả thuận. Nếu cho rằng người quản lý di sản được hưởng thù lao trong mọi trường hợp sẽ có nhiều bất cập. Chẳng hạn, sẽ bất cập khi người quản lý di sản là bên thuê trong hợp đồng thuê tài sản giữa họ với người để lại di sản là đối tượng của hợp đồng thuê tài sản đó. Hơn nữa, cần phải thấy rằng thù lao trong việc quản lý di sản với chi phí liên quan đến việc quản lý di sản là hoàn toàn khác nhau. 

Vì thế, việc người quản lý di sản có được hưởng thù lao đối với việc quản lý di sản hay không cần xét theo các trường hợp sau: 

Thứ nhất, nếu họ là người được xác định trong di chúc: 

Người quản lý di sản trong trường hợp này chỉ được hưởng thù lao nếu người để lại di sản đã xác định trong di chúc. Nếu di chúc không xác định việc họ được hưởng thù lao thì người này sẽ không được hưởng thù lao. Tuy nhiên, họ có thể từ chối việc quản lý di sản. 

Thứ hai, nếu họ là người được người để lại di sản khi còn sống ủy quyền quản lý tài sản: 

Là một bên trong hợp đồng ủy quyền nên quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản trong trường hợp này hoàn toàn được xác định theo nội dung của hợp đồng ủy quyền. Vì vậy, nếu hợp đồng ủy quyền có thỏa thuận về việc hưởng thù lao thì họ mới được quyền hưởng thù lao trong việc quản lý di sản. 

Thứ ba, nếu họ là người được những người thừa kế thỏa thuận cử ra: 

Người quản lý di sản trong trường hợp này có được hưởng thù lao hay không hoàn toàn tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa họ với những người thừa kế. 

Thứ tư, nếu họ là người thuê, mượn tài sản: 

Theo quy định về hợp đồng thuê, mượn tài sản thì người thuê, mượn tài sản có quyền khai thác công dụng của tài sản trong thời hạn thuê, mượn và có nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản. Vì vậy, họ không có quyền được hưởng thù lao trong việc quản lý di sản. TN Thứ năm, nếu họ là người cùng quản lý, sử dụng khối di sản đó với người để lại di sản khi còn sống: 

Là người được sử dụng di sản trong thời gian chưa chia nên người quản lý di sản trong trường hợp này cũng không được hưởng thù lao trong việc quản lý di sản. 

Thứ sáu, nếu là cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền là người quản lý di sản trong người thừa kế của người để lại di sản. Khi đã xác định được người thừa kế thì cơ quan này phải giao di sản cho người thừa kế.

Việc quản lý di sản trong trường hợp này là theo quy định của pháp luật mà hoàn toàn không phải từ ý chí của các chủ thể (vì chưa xác định được người thừa kế) nên không thể có thỏa thuận về việc có hưởng thù lao hay không. Mặt khác, luật không quy định về việc hưởng thù lao trong việc quản lý di sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên vấn đề thù lao không được đặt ra trong trường hợp này. 

– Về nghĩa vụ: Người quản lý di sản trong các trường hợp trên có nghĩa vụ lập danh mục di sản, thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; phải bảo quản di sản, không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản thuộc di sản thừa kể bằng các hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản. Người quản lý di sản trong các trường hợp trên phải thông báo về di sản cho những người thừa kế và phải giao lại tài sản theo yêu cầu của họ, đồng thời phải bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ mà gây ra thiệt hại. 

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN QUÝ KHÁCH CÓ THỂ CHỌN HÌNH THỨC SAU

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Mua nhà vi bằng có làm sổ hồng được không?

Vi bằng không có giá trị thay thế cho hợp đồng được công chứng, chứng thực. Việc mua nhà bằng cách lập vi bằng là không Đúng với quy định của pháp...

Vi bằng nhà đất có giá trị bao lâu?

Hiện nay, pháp luật không có quy định về thời hạn giá trị sử dụng của vi bằng. Tuy nhiên, bản chất khi lập vi bằng được hiểu lập là để ghi nhận sự kiện, hành vi có thật bởi chủ thể có thẩm quyền do Nhà nước quy định và được đăng ký tại Sở Tư...

Mua xe trả góp có cần bằng lái không?

Với hình thức mua xe trả góp, người mua có thể dễ dàng sở hữu một chiếc xe mà không cần có sẵn quá nhiều...

Không có giấy phép lái xe có đăng ký xe được không?

Theo quy định pháp luật hiện hành, người mua xe hoàn toàn có quyền thực hiện các thủ tục đăng ký xe máy và pháp luật cũng không quy định bất kỳ độ tuổi cụ thể nào mới có thể được đứng tên xe. Do vậy, Ngay cả khi bạn chưa có bằng lái, bạn vẫn có thể thực hiện đăng ký xe bình...

Phí công chứng hợp đồng thuê nhà hết bao nhiêu tiền?

Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thì việc thuê nhà bắt buộc phải lập thành hợp đồng nhưng không bắt buộc phải công chứng, chứng thực trừ khi các bên có nhu...

Xem thêm

Liên hệ với Luật Hoàng Phi