Mặt khách quan của tội phạm là gì?
Mặt khách quan của tội phạm là tổng hợp tất cả những biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Dĩ nhiên, không phải mọi trường hợp phạm tội, các biểu hiện này đều hiện diện trên thực tế.
Ngày nay tội phạm càng ngày càng nhiều trong xã hội. Nhiều độc giả chưa nắm được nội dung vấn đề Mặt khách quan của tội phạm là gì? Có rất nhiều câu hỏi xoay quanh vấn đề này mà Quý độc giả còn thắc mắc chưa được giải đáp rõ ràng. Trong nội dung bài viết dưới đây sẽ đưa ra câu trả lời chi tiết hơn.
Một số vấn đề lý luận
Trước khi tìm hiểu Mặt khách quan của tội phạm là gì? bài viết xin đưa ra một số vấn đề lý luận liên quan. Căn cứ Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về khái niệm tội phạm là gì như sau:
Điều 8. Khái niệm tội phạm
1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.
Có thể thấy theo quy định pháp luật thì tội phạm trước hết phải là hành vi (có thể hành vi hành động và không hành động). Nếu không có hành vi thì không có tội phạm và hành vi đó gây nguy hiểm cho xã hội. Tội phạm cũng được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự, tức pháp luật quy định rõ về tội phạm. Tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện và thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại các quan hệ xã hội mà Luật hình sự bảo vệ và phải chịu hình phạt.
Khách quan là những gì tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của con người. Pháp luật hình sự nói riêng và pháp luật nói chung điều chỉnh những hành vi cụ thể của con người và hành vi đó được thể hiện ra ngoài thế giới khách quan. Pháp luật không điều chỉnh những gì thuộc về ý nghĩ, tư tưởng của con người, bởi những ý nghĩ tư tưởng không biểu hiện ra bên ngoài và chúng ta không thể nắm được.

Mặt khách quan của tội phạm là gì?
Mặt khách quan của tội phạm là gì? là câu hỏi được nhiều độc giả quan tâm. Có thể thấy mặt khách quan là yếu tố bên ngoài. Mặt khách quan của tội phạm là tổng hợp tất cả những biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Dĩ nhiên, không phải mọi trường hợp phạm tội, các biểu hiện này đều hiện diện trên thực tế.
Các biểu hiện bên ngoài của tội phạm tạo thành mặt khách quan của tội phạm bao gồm: Hành vi nguy hiểm cho xã hội; Hậu quả nguy hiểm cho xã hội; Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; Các điều kiện bên ngoài khác của tội phạm (công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm…phạm tội).
Thứ nhất: Hành vi khách quan của tội phạm. Hành vi khách quan của tội phạm là tất cả những xử sự của con người được biểu hiện ra thế giới khách quan dưới những hình thức nhất định (hành động hoặc không hành động) gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Hành vi giết người theo quy định tại điều 123 bộ luật hình sự có thể là hành vi hành động hoặc không hành động. Hành vi hành động để giết người như người phạm tội thực hiện hành vi đâm, chém, bắn, đánh, bóp cổ, treo cổ,… với người bị hại
Thứ hai: Hành vi gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của người phạm tội phải là hành vi gây ra hậu quả và hậu quả đó gây nguy hiểm cho xã hội. Nếu hành vi không gây ra hậu quả, tức hành vi chỉ trong suy nghĩ thì không thể được coi là mặt khách quan của tội phạm được. Hành vi giết người theo điều 123 đã xâm phạm tính mạng con người và gây ra cái chết cho nạn nhân. Hậu quả xâm hại quan hệ xã hội là tính mạng con người được pháp luật bảo vệ,
Thứ ba: Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Hành vi khách quan và trái pháp luật phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả. Ví như tội giết người thì hành vi đâm, chém, bóp cổ,… gây ra chết người, tức là có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Thực tiễn xét xử không phải bao giờ cũng dễ dàng xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả chết người.
Thứ tư: Các điều kiện bên ngoài khác của tội phạm như công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm…phạm tội. Các yếu tố này có thể tùy thuộc từng tội phạm khác nhau mà biểu hiện khác nhau.
Trên đây, chúng tôi đã phân tích một số vấn đề xoay quanh nội dung Mặt khách quan của tội phạm là gì? Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đề này nếu có bất cứ thắc mắc nào, Quý khách hàng đừng ngần ngại liên hệ đến Công ty Luật Hoàng Phi qua Tổng đài tư vấn: 1900 6557 để được đội ngũ chuyên viên tư vấn của chúng tôi hỗ trợ tốt nhất.
BÀI VIẾT MỚI NHẤT
Đường dây nóng tố giác tội phạm là số bao nhiêu?
Căn cứ theo Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định, Tố giác tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Tố giác về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn...
Người mẹ giết con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết có phạm tội không?
Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03...
Tin giả là gì? Đăng tin giả bị xử phạt như thế nào?
Tin giả còn được gọi là tin rác hoặc tin tức giả mạo, là các thông tin giả được lan truyền qua phương tiện truyền thông truyền thống (như in và phát sóng) hoặc phương tiện truyền thông xã hội trực...
Phân tích Khoản 1 điều 123 bộ luật hình sự
Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Đây là hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm đến tính mạng của con người. Tội giết người được quy định tại Điều 123, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm...
Ví dụ về quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín
Mọi công dân để được bảo đảm về bí mật thư tín, điện thoại, điện tín. Mỗi người dân để được pháp luật bảo vệ những bí mật này bởi chúng liên quan đến đời sống cá nhân của người...
Xem thêm