Các hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến thành lập, gia nhập công đoàn
Nhiều đơn vị sử dụng lao động, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp dân doanh, người sử dụng lao động cản trở người lao động gia nhập, thành lập và hoạt động công đoàn
1. Khái niệm các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động liên quan đến thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn
Theo quy định tại Điều 190 Bộ luật lao động năm 2012 như sau:
– Cản trở, gây khó khăn cho việc thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.
– Ép buộc người lao động thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn.
– Yêu cầu người lao động không tham gia hoặc rời khỏi tổ chức công đoàn.
– Phân biệt đối xử về tiền lương, thời giờ làm việc và các quyền và nghĩa vụ khác trong quan hệ lao động nhằm cản trở việc thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.

Hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động
2. Bình luận và phân tích các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động liên quan đến thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn
Thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn là quyền của người lao động được pháp luật thừa nhận. Song, quyền này có thực hiện được trên thực tế hay không thì cần phải có sự thiện chí và hỗ trợ của chủ thể bên kia của quan hệ lao động là người sử dụng lao động.
Trong khi đó, thực tế thời gian qua, ở nhiều đơn vị sử dụng lao động, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp dân doanh, người sử dụng lao động cản trở người lao động gia nhập, thành lập và hoạt động công đoàn vì cho rằng, đơn vị phải chi phí tốn kém trong việc bảo đảm cơ sở vật chất cho công đoàn hoạt động, trả lương cho cán bộ công đoàn trong thời gian nghỉ làm việc để hoạt động công đoàn. Ngoài ra, tổ chức công đoàn được thành lập, còn làm hạn chế nhiều quyền của người sử dụng lao động, ví dụ quyền xử lý kỷ luật lao động, quyền chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động… Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, xuất phát từ pháp luật của nước đầu tư, nên yêu cầu người lao động không tham gia công đoàn, hoặc trước đó người lao động đã tham gia tổ chức công đoàn thì khi được tuyển vào làm việc lại yêu cầu người lao động rời khỏi tổ chức công đoàn. Nhiều doanh nghiệp thực hiện phân biệt, đối xử về tiền lương, thời giờ làm việc nhằm cản trở việc tham gia hoạt động công đoàn của người lao động. Cũng theo Báo cáo tổng kết đánh giá 15 năm thi hành BLLĐ của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tại các tỉnh, thành phố lớn, ngay việc thành lập công đoàn cơ sở gặp rất nhiều khó khăn và chiếm tỷ lệ thấp như: Thành phố Hồ Chí Minh là 50%, Đà Nẵng 2%, Bà Rịa Vũng Tàu 30%, Vĩnh Phúc là 12,7% và Hà Nội là 12%. Từ đó, suy ra người lao động không được bảo đảm quyền công đoàn.
Xuất phát từ thực tiễn này, BLLĐ đã dành một điều luật riêng quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động liên quan đến việc thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn. Quy định này không chỉ thể hiện sự phù hợp của pháp luật lao động Việt Nam với quy định của pháp luật nhiều nước trên thế giới, mà còn thể hiện sự chú trọng của Nhà nước về quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động. Đồng thời góp phần thúc đẩy việc thành lập công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp. Hy vọng rằng, với quy định này, tổ chức công đoàn cơ sở được thành lập nhiều thêm, theo đó quyềri và lợi ích của các công đoàn viên, của người lao động được bảo đảm hơn.
Do quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn là quyền của người lao động, được pháp luật thừa nhận, tuy nhiên, việc quyết định có thành lập công đoàn cơ sở hay gia nhập tổ chức công đoàn cơ sở và hoạt động trong một tổ chức công đoàn cơ sở hay không, hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện của người lao động.

Vì thế, các hành vi cản trở, gây khó khăn cho việc thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động; Ép buộc người lao động thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn; Yêu cầu người lao động không tham gia hoặc rời khỏi tổ chức công đoàn; Phân biệt đối xử về tiền lương, thời giờ làm việc và các quyền và nghĩa vụ khác trong quan hệ lao động nhằm cản trở việc thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động… đều bị nghiêm cấm tại Điều 190 BLLĐ. Nếu người sử dụng lao động có hành vi vi phạm các quy định này thì bị xử lý theo quy định của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013. Ngoài ra, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 50 BLLĐ, trường hợp nội dung của hợp đồng lao động hạn chế hoặc ngăn cản quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động thì hợp đồng lao động đó vô hiệu toàn bộ.
Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.
BÀI VIẾT MỚI NHẤT
Công ty được chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp nào?
Hoàng là nhân viên công ty tôi nhưng không có ý thức hợp tác khi làm việc nhóm với đồng nghiệp trong công việc thì công ty tôi có thể chấm dứt hợp đồng lao động với Hoàng...
Hiệu lực của nội quy lao động theo Bộ luật lao động mới nhất
Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng nếu trong thời gian này cơ quan có thẩm quyền đăng ký nội quy có ý kiến về việc nội dung của nội quy lao động trái với quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động phải sửa đổi, bổ sung lại nội quy và tiến hành đăng ký lại....
Chấm dứt hợp đồng đào tạo có phải bồi thường hay không?
Em kí hợp đồng lao động với công ty 3 năm, được cử đi Úc đào tạo, với cam kết phải làm cho công ty 5 năm. Nay em muốn chấm dứt hợp đồng vì thời gian 3 năm sắp hết có được không? có phải bồi thường gì...
Trợ cấp thôi việc khi người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động trái luật
Tôi có ký với công ty dệt may X hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Đến nay, do danh nghiệp không có nhu cầu sử dụng lao động nữa nên đã thông báo trước cho tôi 45 ngày để tôi đi tìm việc khác. Vậy xin hỏi luật sư tôi có được trợ cấp thôi việc...
2/9 năm 2025 được nghỉ bao nhiêu ngày?
Khác với quy định của Bộ luật Lao động 2012, Bộ luật Lao động 2019 đã có nhiều thay đổi lớn, trong số đó, quy định về thời gian nghỉ lễ Quốc khánh cũng được kéo dài ra thành 02 ngày....
Xem thêm