Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại
Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội.
Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, hạn chế gây thêm những tổn thất, mất mát về tinh thần, danh dự không cần thiết đối với bị hại. Vậy pháp luật quy định như thế nào về việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại. Kính mời Qúy độc giả cùng tìm hiểu vấn đề này thông qua bài viết dưới đây.
Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại là gì?
khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại là những trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố vụ án khi có yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện của bị hại.
Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội.
Tuy nhiên,có những trường hợp khi khởi tố vụ án có thể gây thêm những tốn thất, mất mát về tinh thần, danh dự cho bị hại. Vì vậy, pháp luật Việt Nam có quy định về một số trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại.

Quy định của pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định một số tội phạm chỉ được khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại. Theo đó, Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết đối với các tội phạm quy định tại Khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự.
Theo đó, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi nhận được yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại nếu thuộc các trường hợp sau đây:
Trường hợp thứ nhất: Tội phạm thuộc khoản 1 Điều 114 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Cụ thể, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tồn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp dưới đây:
– Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
– Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
– Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
– Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
– Có tổ chức;
– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
– Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
– Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
– Có tính chất côn đồ;
– Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
Trường hợp thứ hai: Tội phạm thuộc Khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Cụ thể, đó là trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó.
Trường hợp thứ ba: Tội phạm thuộc Khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự 2015 (sửa dổi, bổ sung 2017)
Cụ thể, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.
Trường hợp thứ tư: Tội phạm thuộc Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Nếu tội phạm thuộc trường hợp sau đây thì cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại. Đó là trường hợp người phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
Trường hợp năm: Khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự quy định: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Trường hợp thứ sáu: Tội phạm thuộc Khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Cụ thể, đó là hành vi thuộc trường hợp sau người phạm tội dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.
Trường hợp thứ bảy: Tội phạm thuộc Khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Theo đó, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự nếu có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại nếu người phạm tội có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.
Trường hợp thứ tám: Tội phạm thuộc Khoản 1 Điều 156 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Theo đó, người phạm tội có hành vi: (i) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; (ii) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền thì cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được tiến hành khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người dại diện của bị hại.
Trường hợp thứ chín: Tội phạm thuộc Khoản 1 Điều 226 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Theo đó, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại đối với người hành vi phạm tội sau đây: Cố ý xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ Sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
Hậu quả khi người yêu cầu khởi tố vụ án rút yêu cầu
Như đã đề cập ở trên, trong một số trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. Do đó, khi đã yêu cầu khởi tố nhưng lại rút yêu cầu thì vụ án phải bị đình chỉ. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
Trên đây là nội dung bài viết Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại mà Công ty Luật Hoàng Phi gửi đến quý độc giả. Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ với chúng tôi theo số điện thoại: 19006557.
BÀI VIẾT MỚI NHẤT
Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát theo Bộ luật hình sự
Xúi giục người khác tự sát, được hiểu là hành vi thúc đẩy người khác tự chấm dứt cuộc sông của chính họ. Giúp ngươi khác tự sát, được hiểu là hành vi tạo điều kiện cần thiết cho người khác để tự chấm dứt cuộc sống của chính...
Tự vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói...
Hình phạt của tội trộm cắp tài sản như thế nào?
Chú tôi có tiền án về tội trộm cắp tài sản. Gần đây lại trộm cắp tài sản của người khác. Xin hỏi luật sư chú tôi sẽ bị phạt tù bao nhiêu...
Xóa án tích có được lấy chồng công an không?
Việc nam nữ kết hôn với người trong lực lượng công an nhân dân phải tuân thủ các quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và quy chế riêng của ngành Công...
Điều kiện để được áp dụng cải tạo không giam giữ là gì?
Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội, hình phạt cải tạo có thể được áp dụng cho trường hợp tội phạm được thực hiện là tội phạm rất nghiêm...
Xem thêm