Hình sự Tìm hiểu pháp Luật Tội tổ chức đánh bạc, gá bạc theo quy định của Bộ luật hình sự

Tội tổ chức đánh bạc, gá bạc theo quy định của Bộ luật hình sự

Tội tổ chức đánh bạc theo quy định của Bộ luật hình sự như thế nào? Hình phạt đối với tội tổ chức đánh bạc? Cùng tham khảo bài viết sau đây của chúng tôi.

Tội tổ chức đánh bạc, gá bạc là gì?

Theo quy định tại điều 322- Bộ luật hình sự quy định tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc như sau:

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bphạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt từ 01 năm đến 05 m:

a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trlên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong ng 

một lúc tổng stiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên

b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc tổng số tiền, hiện vật ng đánh bạc trị giá 5.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trgiá 5.000.000 đồng trở lên

c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên

d) tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bvây bắt, sử dụng phương tiện để trgiúp cho việc đánh bạc;

đ) Đã bxử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều y hoặc hành vi quy định tại Điu 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điu 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích còn vi phạm

2. Phm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bphạt từ 05 năm đến 10 năm:

a) tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở n

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử đphạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm

3. Người phạm tội còn thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Bình luận tội tổ chức đánh bạc, gá bạc theo quy định của Bộ Luật hình sự

– Dấu hiệu pháp lý tội tổ chức đánh bạc, gá bạc

(i) Khách thể của tội phạm:

Tội phạm xâm phạm trật tự công cộng, an toàn xã hội

(ii) Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép.

Tổ chức đánh bạc là hành vi chỉ huy, phân công, điều hành sự kiện, sự việc để những người khác dùng tiền, hiện vật có giá trị tham gia vào sự kiện, sự việc mà họ có thể được thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị khi không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép (không được cấp phép hoặc không đúng với nội dung đã được cấp phép).

Gá bạc là hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để người khác dùng tiền, hiện vật có giá trị tham gia vào sự kiện, sự việc mà họ có thể được thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị khi không được cơ quan nhà nước thẩm quyền cho phép.

Hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép cấu thành tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

+ Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên

+ Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

+ Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết | bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành đối với tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc hoặc đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội tổ chức đánh bạc, gá bạc hoặc đánh bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

+ Bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc hoặc đánh bạc mà còn vi phạm nếu trước đó đã bị người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc hoặc đánh bạc, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị phạt hành chính mà còn thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc.

Bị coi là đã bị kết án về tội tổ chức đánh bạc, gá bạc hoặc đánh bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nếu người đó đã bị Tòa án kết án về tội tổ chức đánh bạc, gá bạc hoặc đánh bạc, nhưng chưa được xóa án tích theo quy định của BLHS mà lại thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc.

Người thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc mà còn thực hiện hành vi đánh bạc, thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 322 Bộ luật hình sự, còn bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đã thực hiện theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự.

(iii) Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện hành vi đó.

(iv) Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội phạm là người đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực TNHS. In 2. Hình phạt * Khung hình phạt tại khoản 1:

Người phạm tội bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

– Khung hình phạt đối với tội tổ chức đánh bạc, gá bạc 2021

+ Khung hình phạt tại khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

+ Có tính chất chuyên nghiệp: Phạm tội “có tính chất chuyên nghiệp” là phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc từ 05 lần trở lên, không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay chưa bị truy cứu TNHS nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xóa án tích và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm nguồn sống chính.

+ Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên: Đây là trường hợp thu được lợi ích vật chất không chính đáng từ việc phạm tội trị giá 50.000.000 đồng trở lên

+ Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội

+ Tái phạm nguy hiểm.

Đây là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại một trong các điểm a, b, c khoản 2 Điều 322 BLHS hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại khoản 1 hoặc tại một trong các điểm a, b, c khoản 2 Điều 322 BLHS.

Trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại một trong các điểm a, b, c khoản 2 Điều 322 BLHS, thì cùng với việc bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt “tái phạm nguy hiểm theo điểm d khoản 2 Điều 322 BLHS, người phạm tội còn phải bị áp dụng điểm tương ứng trong khoản 2 Điều 322 BLHS.

* Hình phạt bổ sung tại khoản 3: 

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

>>>>> Tham khảo: Tội đánh bạc theo quy định của Bộ luật hình sự

Đánh giá bài viết:

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN: 1900.6557 – TƯ VẤN TRỰC TUYẾN 24/7

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557“Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Hotline: 1900.6557