Trang chủ » Đất đai » Hỏi đáp luật đất đai » Tặng cho đất bằng giấy viết tay có hợp pháp không?

Tặng cho đất bằng giấy viết tay có hợp pháp không?

(Cập nhật: 31/08/2018 | 13:44)

Ông tôi cho bố tôi một mảnh đất 587 mét vuông nhưng giấy tờ viết tay không có xác nhận của cơ quan nhà nước. Sau hai năm ông tôi không cho bố tôi nữa mà muốn cho tôi có được không?

Câu hỏi:

Ông tôi tặng cho bố tôi một mảnh đất 587 mét vuông từ năm 2005 được lập thành văn bản viết tay và có chữ ký của người làm chứng chứ không có cơ quan nhà nước xác nhận. Hai năm sau bố tôi sa sút vào cờ bạc nên ông tôi rút lại ý định cho bố tôi mảnh đất đó mà muốn tặng cho tôi chính vì vậy, bố tôi không thể làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do có tranh cãi từ ngày đó tới giờ. Vậy xin hỏi, ông tôi tặng cho đất cho bố tôi như vậy có đúng hay không? ông có thể tặng cho mảnh đất đấy sang tôi được không?

 

Trả lời:

Tặng cho đất bằng giấy viết tay có hợp pháp không?

Tặng cho quyền sử dụng đất 

Luật Hoàng Phi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Thứ nhất: Vấn đề tặng cho giữa ông bạn và bố bạn

Vì việc tặng cho tại thời điểm năm 2005 nên sẽ áp dụng Đoạn 2 Điểm b Khoản 1 Điều 129 Luật đất đai năm 2003 quy định như sau:

“Văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước”.

Chính vì vậy, việc tặng cho đất của ông bạn phải được lập thành văn bản có chứng thực hoặc công chứng đúng theo quy định của pháp luật mới có hiệu lực, nên văn bản tặng cho của ông bạn sẽ vô hiệu ngay từ đầu và đất đó vẫn thuộc quyền sở hữu của ông bạn

Thứ hai: Vấn đề ông bạn tặng cho quyền sử dụng đất sang cho bạn

Vào thời điểm hiện tại, nếu ông bạn muốn tặng cho bạn quyền sử dụng đất thì áp dụng những quy định tại Luật đất đai năm 2013 và Bộ luật dân sự năm 2005 cụ thể như sau:

Căn cứ Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 quy định: 

“Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này”;

Sau đó bạn phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai để sang tên mảnh đất đó theo quy định tại Khoản 4 Điều 95 Luật đất đai năm 2013:

“Đăng ký biến động được thực hiện đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đã đăng ký mà có thay đổi sau đây:

a) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất”;

Theo quy định tại Điều 467 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về tặng cho bất động sản như sau:

“1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản”.

Trên đây là câu trả lời của Luật Hoàng Phi, bạn có thể áp dụng vào thực tế trường hợp của gia đình bạn để giải quyết

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.