• Thứ ba, 05/09/2023 |
  • Tìm hiểu pháp Luật |
  • 1653 Lượt xem

Quy định về hiệu lực của Bộ luật hình sự với hành vi phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam

So với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 đã thừa nhận và sử dụng bổ sung nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc gia và nguyên tắc quốc tịch theo nghĩa quốc tịch bị động khi quy định hiệu lực về không gian tại Điều 6.

Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam

Điều 6. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này. 

Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam. 

2. Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

3.Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều trớc quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định. 

Bình luận về hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam

Điều luật quy định hiệu lực về không gian của BLHS theo nguyên tắc quốc tịch, nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc gia và nguyên tắc phổ cập. Trong đó, nguyên tắc quốc tịch được hiểu theo cả nghĩa quốc tịch chủ động và cả nghĩa quốc tịch bị động.

So với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 đã thừa nhận và sử dụng bổ sung nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc gia và nguyên tắc quốc tịch theo nghĩa quốc tịch bị động khi quy định hiệu lực về không gian tại Điều 6.

Theo đó, BLHS Việt Nam có hiệu lực đối với hành vi phạm tội xảy ra bên ngoài lãnh thổ Việt Nam trong các trường hợp sau: 

Khoản 1 của điều luật quy định hiệu lực về không gian theo nguyên tắc quốc tịch (chủ động). Cụ thể: Đoạn đầu tiên của khoản 1 xác định, BLHS Việt Nam có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp người thực hiện tội phạm là công dân Việt Nam.

Trong đó, công dân Việt Nam được hiểu là người mang quốc tịch Việt Nam. Theo nguyên tắc quốc tịch (chủ động), BLHS Việt Nam cũng có hiệu lực đối với pháp nhân thương mại Việt Nam khi các điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại thỏa mãn.

Trong đó, pháp nhân thương mại Việt Nam được hiểu là pháp nhân thương mại được thành lập theo pháp luật Việt Nam. 

Ở đây cần chú ý: Vấn đề BLHS Việt Nam có hiệu lực đối với hành vi phạm tội được thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam và vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi phạm tội đó tại Việt Nam theo BLHS Việt Nam là hai vấn đề khác nhau.

BLHS Việt Nam có hiệu lực đối với mọi hành vi phạm tội do công dân Việt Nam thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng không phải tất cả các hành vi này đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo BLHS Việt Nam vì việc truy cứu này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác.

Do vậy, khoản 1 quy định: “Công dân Việt Nam … có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này”. 

Khi xác định hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội do người Việt Nam thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể gặp hai loại trường hợp khác nhau.

Đó là trường hợp hành vi phạm tội xảy ra được quy định cả trong BLHS Việt Nam và cả trong luật hình sự của quốc gia mà hành vi phạm tội này xảy ra. Trường hợp khác là trường hợp hành vi phạm tội chỉ được quy định trong BLHS Việt Nam.

Do khoản 1 của điều luật không quy định rõ về vấn đề này nên có thể hiểu BLHS Việt Nam có hiệu lực đối với cả hai trường hợp.

Tuy nhiên, theo nguyên tắc “có lợi” thì khoản 1 của điều luật phải được giải thích theo hướng, BLHS Việt Nam chỉ có hiệu lực đối với trường hợp hành vi phạm tội xảy ra được quy định cả trong BLHS Việt Nam và cả trong luật hình sự của quốc gia mà hành vi phạm tội này xảy ra. 

Đoạn thứ hai của khoản 1 xác định BLHS cũng có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp người thực hiện tội phạm là người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.

Quy định này phù hợp với quy định của Công ước quốc tế về quy chế của người không quốc tịch (năm 1954).

Trong đó, Điều 2 của Công ước quy định: “Mỗi người không quốc tịch đều có những nghĩa vụ đối với đất nước nơi người đó cư trú, những nghĩa vụ này đòi hỏi người đó phải tuân thủ các quy định pháp luật của nước đó cũng như những biện pháp được áp dụng để duy trì trật tự công cộng.” 

Khoản 2 của điều luật quy định hiệu lực về không gian theo nguyên tắc quốc tịch (bị động), nguyên tắc bảo đảm an ninh quốc gia và nguyên tắc phổ cập. Cụ thể: 

– Theo nguyên tắc quốc tịch (bị động), BLHS Việt Nam có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam mà nạn nhân của tội phạm là công dân Việt Nam.

Ở đây, quốc tịch được xác định theo nạn nhân của tội phạm (bị động), trong khi đó, khoản 1 xác định quốc tịch theo chủ thể của tội phạm (chủ động). 

– Theo nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc gia, BLHS Việt Nam có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng xâm hại lợi ích của Việt Nam, trong đó phải kể đến trước hết là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ …

– Theo nguyên tắc phổ cập, BLHS Việt Nam có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng là những tội phạm được quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Đây là các tội phạm quốc tế được quy định trong Chương XXVI BLHS Việt Nam và các tội phạm có tính quốc tế được quy định trong một số chương khác của BLHS Việt Nam như tội khủng bố (Điều 299); tội rửa tiền (Điều 324); tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); …

Quy định của BLHS Việt Nam về các tội phạm này có hiệu lực đối với hành vi phạm tội được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam và người thực hiện không phải là công dân Việt Nam khi trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định tương ứng. 

Khoản 3 của điều luật quy định hiệu lực về không gian theo nguyên tắc phổ cập trong trường hợp hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển.

Theo đó, BLHS Việt Nam có hiệu lực đối với “... hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam … trong trường hợp điều tước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định”. 

Quy định trên đây, xét về bản chất cũng là trường hợp áp dụng nguyên tắc phổ cập giống như khoản 2.

Tuy nhiên, vẫn có thể coi đây là trường hợp đặc biệt so với trường hợp được quy định tại khoản 2 vì không gian được quy định tại khoản 3 gắn với tàu bay, tàu biển là các “không gian” vừa gắn với “lãnh thổ” vừa gắn với “quốc tịch”. 

Như vậy, việc xác định hiệu lực về không gian của BLHS theo nguyên tắc phổ cập tại khoản 2 và khoản 3 của điều luật đều liên quan đến các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Khi xác định cần chú ý không chỉ nội dung cụ thể của điều ước về tội phạm và quyền tài phán mà còn phải chú ý phạm vi tham gia của Việt Nam.

Diễn đạt của điều luật này có hạn chế tương tự như diễn đạt của Điều 5 BLHS, vừa chưa phản ánh được bản chất của vấn đề vừa chưa thống nhất với tên chương, tên điều vì giữa “Bộ luật có hiệu lực…” và “... có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này...” có sự khác nhau.

Bộ luật hình sự Việt Nam phải có hiệu lực thì mới có thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật này được. Do vậy, để đảm bảo tính chính xác và thống nhất cần diễn đạt lại điều luật theo hướng phù hợp với tên gọi của điều luật. 

Ngoài ra, nếu tên gọi “tàu biển” được thay bằng tên gọi “tàu thuyền” thì sẽ đảm bảo tính thống nhất với luật chuyên ngành là Luật biển Việt Nam. 

BÀI VIẾT MỚI NHẤT

Trách nhiệm hình sự về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ

Hành vi ngược đãi, hành hạ thông thường được hiểu là việc đối xử tồi tệ về ăn, mặc, ở và về các mặt sinh hoạt hàng ngày khác đối với người thân như: nhiếc móc, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách một cách không bình thường hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể người bị hại như: đánh đập, giam hãm,… làm cho người bị hại bị đau đớn về thể xác...

Quy định về bảo lĩnh theo Bộ luật Tố tụng hình sự mới nhất

Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo...

Vi phạm pháp luật trong thời gian thử thách

Anh tôi đang trong thời gian thử thách mà lại bị người ta phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Vậy trường hợp của anh tôi bị xử lý như thế...

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nhất.

Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định trong BLHS năm 2015. Người phạm tội trong trường hợp này có động cơ bắt giữ người phạm tội nhưng khi thực hiện việc này họ đã dùng vũ lực, gây thiệt hại cho người bị bắt giữ vượt quá mức cần...

Quy định pháp luật về bắt bị can, bị cáo để tạm giam mới nhất

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử để tạm giam phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình...

Xem thêm

0981.378.999
Online