Người lao động có thể làm việc không trọn thời gian không?
Làm việc không trọn thời gian còn gọi là làm việc bán thời gian là hình thức làm việc được thịnh hành trên thế giới và ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam
1. Quy định của pháp luật lao động về người lao động làm việc không trọn thời gian:
Theo quy định Điều 34 Bộ luật lao động 2012 về người lao động làm việc không trọn thời gian:
“1. Người lao động làm việc không trọn thời gian là người lao động có thời gian làm việc ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuần được quy định trong pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc quy định của người sử dụng lao động.
2. Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động làm việc không trọn thời gian khi giao kết hợp đồng lao động.
3. Người lao động làm việc không trọn thời gian được hưởng lương, các quyền và nghĩa vụ như người lao động làm việc trọn thời gian, quyền bình đẳng về cơ hội, không bị phân biệt đối xử, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động.“

Người lao động làm việc không trọn thời gian
2. Bình luận về quy định người lao động làm việc không trọn thời gian:
Làm việc không trọn thời gian (còn gọi là làm việc bán thời gian) là hình thức làm việc đã được thịnh hành trên thế giới và ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam. Tuy nhiên, đến khi Bộ luật Lao động năm 2012 được thông qua thì hình thức làm việc này mới được chính thức ghi nhận.
Việc đưa quy định này vào Bộ luật Lao động đã giải quyết được một số vấn đề đã phát sinh trên thực tế trước đây, như: không thống nhất trong cách hiểu về làm việc bán thời gian; không có cơ sở pháp lý để người sử dụng lao động và người lao động giao kết hợp đồng lao động làm việc theo chế độ bán thời gian; không có cơ sở pháp lý để xác định mức lương và các quyền lợi khác cho người lao động; khó tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho những người lao động làm việc bán thời gian…
Điều 34 Bộ luật Lao động quy định quyền của người sử dụng lao động trong việc giao kết hợp đồng lao động với người lao động để làm việc theo hình thức không trọn thời gian. Tại Khoản 1 điều này đã thống nhất cách hiểu về làm việc không trọn thời gian như sau: “Người lao động làm việc không trọn thời gian là người lao động có thời gian làm việc ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuần được quy định trong pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc quy định của người sử dụng lao động”.
Theo quy định này, cơ sở pháp lý để xác định làm việc không trọn thời gian là quy định của pháp luật lao động, quy định trong thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc các quy định nội bộ khác của người sử dụng lao động về quy định thời gian làm việc bình thường trong một ngày, trong một tuần đối với từng loại công việc. Khi người lao động làm việc ngắn hơn với thời gian làm việc bình thường đã được quy định theo sự thỏa thuận của hai bên thì được coi là làm việc không trọn thời gian.
Ví dụ: thời gian làm việc bình thường được quy định là 8 giờ/ngày, nếu người lao động giao kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp để làm việc 5 giờ/ngày thì được gọi là làm việc không trọn thời gian.
Từ quy định này cũng cần lưu ý, có những trường hợp theo quy định của pháp luật, người lao động có quyền làm việc ngắn hơn thời gian làm việc bình thường mà vẫn được hưởng lương như làm việc bình thường thì không xếp vào trường hợp làm việc không trọn thời gian.
Ví dụ: lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày ít nhất 60 phút tính trong giờ làm việc.
Về nguyên tắc chung, người lao động làm việc không trọn thời gian được hưởng lương, các quyền và nghĩa vụ như người lao động làm việc trọn thời gian, quyền bình đẳng về cơ hội, không bị phân biệt đối xử, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Tuy nhiên, khi áp dụng nguyên tắc này cũng cần phải hiểu cho đúng là tiền lương và các quyền lợi vật chất khác sẽ được tính tương ứng với thời gian làm việc và kết quả công việc thực tế của người lao động cho doanh nghiệp.

Lấy một ví dụ đơn giản để minh họa cho việc này như sau: giả sử A làm việc trọn thời gian là 8 giờ/ngày, 6 ngày/tuần (với vị trí công việc: nhân viên hành chính) được hưởng lương 10.400.000 đồng/tháng (tính trung bình 50.000 đồng/giờ); nếu B cũng làm công việc này theo chế độ không trọn thời gian (5 giờ/ngày, 6 ngày/tuần) thì lương tháng của B sẽ được thanh toán theo mức 6.500.000 đồng/tháng (50.000 đồng/giờ). Việc xác định mức trả lương cho B trong trường hợp này là đúng và đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa những người lao động (bình đẳng giữa người lao động làm việc không trọn thời gian và người lao động làm việc trọn thời gian).
Về mặt lý luận và thực tiễn cũng cần phải phân biệt hình thức làm việc không trọn thời gian với làm việc theo hợp đồng theo mùa, vụ, việc. Làm việc không trọn thời gian là hình thức/ phương thức tiến hành công việc có tính chất thường xuyên nhưng không làm đủ thời gian. Còn làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa, vụ, việc là làm việc theo hoàn cảnh, điều kiện công việc và không có tính chất thường xuyên như làm việc không trọn thời gian.
Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.
BÀI VIẾT MỚI NHẤT
Có được giữ giấy tờ tùy thân của người lao động không?
Giám đốc doanh nghiệp yêu cầu nộp giấy khai sinh gốc khi giao kết hợp đồng lao động có trái với quy định của pháp luật...
Thời hạn thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp là bao nhiêu lâu?
Đối với doanh nghiệp ký kết thỏa ước lao động tập thể không phải lần đầu thì pháp luật trao quyền cho các bên tự thương lượng về thời hạn thỏa...
Người lao động là các cá nhân trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, có thể là làm việc bằng sức lao động hay là lao động trí óc. Thông qua hành vi lao động trên thực tế mà được trả lương, làm việc dưới sự quản lý của người sử dụng lao...
Làm mất tài sản của xí nghiệp bồi thường thế nào?
Luật sư có thể giải đáp giúp em trường hợp này: Bố em làm mất tài sản của xí nghiệp và bị yêu cầu bồi thường bằng số tiền mua mới tài sản như vậy có đúng...
Xem thêm