Trang chủ » Hình sự » Hỏi đáp luật hình sự » Tội không tố giác tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự mới

Tội không tố giác tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự mới

  • Luật Hoàng Phi |
  • Cập nhật: 12/02/2020 |
  • Hình sự |
  • 16875 Lượt xem

Không tố giác tội phạm, được hiểu là hành vi không báo cho cơ quan có thẩm quyền về một trong các tội phạm được Bộ luật Hình sự quy định (tại Điều 389) mà mình biết rõ là đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện.

Bộ luật hình sự ra đời nhằm ngăn chặn, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, ảnh hưởng đến các quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Người thực hiện tội phạm bị xử lý nghiêm khắc theo pháp luật hình sự, vậy người chứng kiến tội phạm nhưng không tố giác có phải chịu trách nhiệm gì hay không? Nếu cũng đang có thắc mắc như trên, đừng bỏ qua nội dung bài viết về tội không tố giác tội phạm sau đây của Luật Hoàng Phi, bởi chắc chắn Quý vị sẽ có được những thông tin hữu ích cho mình.

1. Thế nào là không tố giác tội phạm?

Tội không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 390 Bộ luật hình sự 2015 như sau:

“1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”

Theo đó, không tố giác tội phạm, được hiểu là hành vi không báo cho cơ quan có thẩm quyền về một trong các tội phạm được Bộ luật Hình sự quy định (tại Điều 389) mà mình biết rõ là đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện.

Tội không tố giác tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự 2015

Tội không tố giác tội phạm

2. Tư vấn và bình luận về tội không tố giác tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự 2015

Các yếu tố cấu thành tội không tố giác tội phạm

–  Mặt khách quan:

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

Có hành vi (không hành động) không báo cho cơ quan có thẩm quyền về việc một tội phạm đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã được thực hiện xong mà mình biết rõ.

–  Tội phạm đang chuẩn bị: Là trường hợp người phạm tội đang tiến hành tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm.

–  Tội phạm đang thực hiện: Là trường hợp người phạm tội đang thực hiện các hành vi phạm tội mà chưa hoàn thành tội phạm đó (tức tội phạm đã hoàn thành).

–  Tội phạm đã được thực hiện là trường hợp người phạm tội đã thực hiện xong những hành vi cấu thành của một tội phạm cụ thể.

Lưu ý: Tội phạm mà người phạm tội biết rõ là đang chuẩn bị, đang hoặc đã thực hiện phải là một trong các tội phạm được quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự (xem giải thích ở tội che giấu tội phạm), đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội phạm này. Những tội phạm khác dù biết rõ đã chuẩn bị, đã hoặc đang thực hiện mà không tố giác thì cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.

–  Khách thể:

Hành vi không tố giác tội phạm xâm hại đến hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm và người phạm tội.

–  Mặt chủ quan:

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

–  Chủ thể:

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Tại khoản 2 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015 quy định những đối tượng sau đây không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm: ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội. Tuy nhiên họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này nếu người phạm tội đã phạm vào các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng như nêu ở trên.

Lưu ý:

 Người không tố giác tội phạm nếu đã có hành vi can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

Về hình phạt

Bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Được áp dụng trong trường hợp có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này nêu ở mặt khách quan và chủ quan.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.


Quý khách có thể tham khảo mục HỎI – ĐÁP luật Hình sự của Luật Hoàng Phi để có thêm các thông tin liên quan như:

Câu hỏi:  Gửi Công ty Luật Hoàng Phi, Tôi có một thắc như sau mong được giải đáp: Tôi có một căn nhà 3 tầng cho thuê, người thuê ở mỗi tầng là khác nhau. Tháng 11/2019 vừa qua, tại căn nhà trọ tôi cho thuê, người thuê trọ bị công an bắt khẩn cấp vì đánh bạc với số tiền khoảng hơn 100 triệu thu được trên chiếu bạc.Tại thời điểm vụ việc diễn ra, tôi đang ở trong nhà này, cụ thể là tại tầng 2 để nhắc nhở người thuê trọ về việc nộp tiền thuê đúng hạn và hoàn toàn không biết về việc đánh bạc xảy ra tại tầng 3. Tôi nghe một số người bà con có nói, dù không thực hiện đánh bạc, nhưng nếu không tố giác vẫn có thể bị xử lý hình sự. Vậy với trường hợp này, tôi có bị xem xét về tội không tố giác tội phạm không?

Trả lời:

Cảm ơn Chị đã tin tưởng và lựa chọn Luật Hoàng Phi khi cần hỗ trợ pháp lý. Với câu hỏi của Chị, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Theo Điều 390 Bộ luật hình sự hiện hành, người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 389 của Bộ luật hình sự đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 Bộ luật này thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm tùy vào mức độ hành vi.

Tội phạm mà người thuê trọ của chị bị xem xét là Tội đánh bạc theo Điều 321 Bộ Luật hình sự, không thuộc các trường hợp tội phạm phải tố giác theo Điều 389 của Bộ Luật hình sự, mặt khác, xét về mặt chủ quan, chủ thể thực hiện không tố giác tội phạm phạm tội với lỗi cố ý, biết rõ về tội phạm mà không khai báo với cơ quan chức năng. Theo thông tin chị cung cấp, chị hoàn toàn không biết về vụ việc này. Do đó, trường hợp này, chị không phạm tội không tố giác tội phạm theo Bộ luật hình sự hiện hành. Điều chị cần làm là khai báo chính xác, trung thực các thông tin mà mình biết để làm rõ các tình tiết trong vụ việc, và có thể yêu cầu những người thuê trọ, những người hàng xóm xung quanh (nếu có) làm chứng cho mình về khoảng thời gian vụ việc xảy ra. Trong trường hợp ở nhà trọ của chị có các thiết bị giám sát âm thanh, hình ảnh như camera, chị có thể trích xuất gửi cho công an có thẩm quyền hiện đang điều tra để chứng minh thêm thông tin, cũng như hỗ trợ cơ quan chức năng trong việc làm sáng tỏ vụ việc.

Trên đây là nội dung trả lời về Tội không tố giác tội phạm, nếu trong quá trình tham khảo thông tin còn thắc mắc, Quý vị vui lòng liên hệ Luật Hoàng Phi qua Tổng đài tư vấn 1900.6557 để được hỗ trợ kịp thời và chính xác.